BÀI THƠ “RẮN ĐẦU BIẾNG HỌC”
KHÔNG PHẢI LÀ SÁNG TÁC
CỦA LÊ QUÍ ĐÔN
Đây là
bài thơ rất nổi tiếng từ lâu đã được truyền tụng trong dân gian, tương truyền
là của Lê Quí Đôn, có trong Giai thoại văn học Việt Nam và nhiều
sách khác. Nhân đầu xuân Quí Tỵ vừa rồi, nhiều báo và tạp chí, từ Hà Nội đến
các địa phương và TP Hồ Chí Minh, ra số tết, số xuân, dẫn bài thơ này và đều
ghi là của Lê Quí Đôn. Từ lâu tôi đã không tin điều đó. Bài thơ như sau:
RẮN ĐẦU BIẾNG HỌC
Chẳng phải liu điu cũng giống
nhà
Rắn đầu biếng học quyết không tha
Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ
Nay thét mai gầm rát cổ cha
Ráo mép chỉ
quen tuồng lếu láo
Lằn lưng chẳng khỏi vết roi cha
Từ nay Trâu Lỗ xin siêng học
Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia
Tôi chép bài thơ này từ tạp chí Văn học và tuổi trẻ, dành cho cấp tiểu
học, nhà xuất bản Giáo dục, số 1 năm 2013, trang 14, vốn là một trong các xuất bản phẩm, có độ
tin cậy được coi là cao nhất, vì nó nằm trong tiêu chí chung của nhà xuất bản
này, là dạy đạo làm người cho thanh
thiếu niên cả nước. Những chữ hoa và in đậm, đều là nguyên văn của văn bản được
dẫn. Rồi bài đăng trên báo Quân khu Ba,
bài đăng trên tập chí Nguồn sáng dân gian
gần đây... Rồi xưa hơn nữa là sách Quốc
văn giáo khoa thư soạn cho học sinh lớp sơ đẳng từ trước năm 1945... cũng
có in bài thơ này, “được cho” là của Lê Quí Đôn. “Tương truyền” hay “được cho”
đều không có ý nghĩa khẳng định. Nếu so các văn bản ấy với nhau, thì không văn
bản nào giống hẳn văn bản nào.
Còn câu
chuyện kể về hoàn cảnh ra đời của bài thơ này của cậu bé Lê Danh Phương, tên
thuở nhỏ của Lê Quí Đôn, được ghi như sau:
Có một
ông khá cao tuổi đến thăm, hỏi nhà của bố cậu bé Phương. Lúc ấy Phương đang tắm
trần truồng, liền bảo: nếu ông biết chữ này là chữ gì, cháu sẽ chỉ cho. Nói rồi
cậu đứng dạng cả chân tay ra. Ông khách thấy thằng nhóc con lếu láo, nên đi
thẳng. Phương nói với theo: Ê, ông quan to thế mà dốt à? Ông khách bực quá,
quay lại nói: chữ ĐẠI chứ còn chữ gì. Cậu bé chỉ vào bộ hạ của mình, nói: Đây
là chữ THÁI, thế mà không biết. (Vì chữ Đại thì không có một dấu chấm ở bẹn chú
bé).
Vào nhà
bạn, mới biết đứa bé ấy là con bạn, bèn khen là thông minh hơn người. Nhưng ông
Lê Trọng Thứ thì giận con lắm, bắt nằm xuống đánh đòn. Ông khách xin cho và bảo
cháu làm thơ đi. Và bài thơ ứng khẩu được đọc ngay như trên. Tuy thế có một số
chữ khác nhau trong các bản in khác nhau. Tạp chí Văn Hiến Việt Nam, chép câu 2: “Rắn đầu biếng học ắt không tha”, và câu 6: “Lằn lưng cam chịu vết năm ba”. Rồi nữa, Đại học khoa học Sài Gòn số Xuân Quí Tị, lại in – Lằn lưng chẳng khỏi vết roi da
- Lê Quí Đôn bị cha đánh bằng “roi da” – chi tiết này, tôi chưa thấy ghi ở đâu, nay
thấy ở đây – TNM nhấn mạnh) là những ví dụ, chắc còn chưa hết.
Câu
chuyện về hoàn cảnh ra đời của bài thơ đại khái như thế, truyện dân gian Trạng
Quỳnh lại ghi là của Trạng Quỳnh, giai thoại về Cao Bá Quát lại ghi là của Cao Bá Quát. Đơn giản vì nó có chung một nguồn gốc là
chuyện dân gian.
Cũng như câu thơ rất nổi tiếng:
Nhất sinh
đê thủ bái mai hoa
(Một đời chỉ biết cúi đầu lạy hoa mai)
Mấy chục
năm nay ta gán nó cho Cao Bá Quát và hết lời ca ngợi khí phách của ông trong
câu thơ bất hủ này, thậm chí còn làm giả cả chữ của ông rồi đưa lên thờ. Thực
ra, đó là thơ của viên tri huyện (có tài liệu ghi là tri phủ) Hán Dương tỉnh Hồ
Bắc (Trung Quốc) tên là Ngải Tuấn Mĩ, nguyên văn như sau:
Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa
Có bản dịch là
Mười năm
vất vả tìm cổ kiếm
Một đời chỉ cúi lạy hoa mai
Hai câu ấy, tri huyện Ngải Tuấn Mĩ viết tặng phó sứ nhà Nguyễn
là Nguyễn Tư Giản năm 1868, khi sứ bộ Đại Nam sang triều cống nhà Thanh, đi qua
đó. Chính Nguyễn Tư Giản đã ghi lại hành trình chuyến đi, với hai câu thơ trên
trong cuốn Yên thiều bút lực năm
1868. Được biết văn bản hiện vẫn còn ở dạng chép tay của phó sứ Nguyễn Tư Giản,
được lưu giữ tại Thư viện khoa học Trung ương. Chúng ta đều biết Cao Bá Quát đã
mất từ năm 1854, nghĩa là trước đó đến 14 năm([1]).
Ở ta, từ thời xưa, thường xảy ra những chuyện gán ghép vui vui như thế mà nhiều
người cứ tưởng là thật, rồi viết sách truyền dạy cho nhau, từ đời nọ đến đời
kia.
Lê Quí Đôn là một người thuần hậu, điềm đạm, mực
thước - trong bản tính trước sau nhất quán. Ông tuy có làm quan, nhưng cả đời
ông chăm lo vào các trước tác biên khảo, để ngày nay chúng ta có nhiều công
trình văn hóa lớn do ông để lại.
Tất cả
những điều đó đều nói lên xuất xứ dân gian của thi phẩm. Hơn nữa, trong tất cả
các sách đã xuất bản gồm những trang viết chính thức của nhà bác học Lê Quí
Đôn, đều không có bài thơ này. Ở ta có một sai lầm không biết từ bao giờ mà
cũng chẳng biết đến bao giờ mới kết thúc được, ấy là nhầm lẫn giữa huyền thoại,
chuyện dân gian với lịch sử, rồi một lúc nào đó, nhập luôn chuyện dân gian, huyền
thoại với lịch sử là một, làm cho các giá trị đã có đều biến dạng. Các ý kiến
về bài thơ này nằm trong xu hướng nhầm lẫn đó, từ “tương tuyền”, hoặc “được
cho” là của Lê Quí Đôn, đã thành “của” Lê Qúi Đôn, với tư cách là một sáng tác
nghiêm chỉnh về mặt văn bản học, dù bài thơ đó, không phải của Lê Quí Đôn, thì
vẫn cứ là bài thơ khuyết danh hay, nghệ thuật dùng từ vô cùng tài giỏi. Sau đó
các bài đều giảng giải khá công phu từng câu một, với các loại rắn và đặc trưng
của chúng, như liu điu, hổ lửa, mai gầm...
Đến câu
thứ 7: Từ nay Trâu Lỗ xin siêng học,
(câu này thì tất cả các văn bản đều in như nhau) vấn đề tôi quan tâm là ở câu
này. Văn bản tạp chí Văn học và tuổi trẻ giải
thích, có một lọai rắn tên là hổ trâu, (trong
hai chữ TRÂU LỖ), tôi thấy không có sức thuyết phục. Và như thế, nếu theo
cấu tạo của từ, khi đã có rắn trâu
thì phải có rắn lỗ nữa chứ. Tạp chí Nguồn sáng dân gian lại giải thích chữ Lỗ
là rắn
ở lỗ. Rắn chả ở lỗ (hang) thì ở đâu? Rõ ràng là không ổn. Không thể
tách TRÂU ra khỏi LỖ trong trường hợp này được, cũng như không thể tách liu điu là rắn liu và rắn điu, hay hổ mang là rắn hổ và rắn mang. Lại càng không thể giải thích rắn “trâu”
thì ở “lỗ” còn rắn khác thì ở đâu? Tôi nghĩ tác giả tạp chí Văn học và tuổi trẻ có lẽ cũng nghĩ thế, nên đã viết tiếp: “Cậu cả Phương còn vận dụng cả điển tích đấy. Khổng Tử quê ở đất Lỗ,
còn Mạnh Tử quê ở Trâu Thành. Hai ông này là các cụ tổ của Nho học, nổi tiếng
tài cao học rộng. Tự ví mình như thế, kể
cũng đáng nể đấy” (TNM nhấn mạnh).
Tạp chí Nguồn sáng dân gian cũng giải
thích theo cách đó, là “chỉ quê hương
của Mạnh Tử, Khổng Tử, tượng trưng cho nho học”. Các tác giả giảng giải như
thế đúng
hơn, có
sức thuyết phục hơn, như các sách thường giải thích từ xưa đến
nay, đều cho là Trâu Lỗ không phải tên
một loài rắn, vì không có rắn
trâu lỗ, đặc biệt là không
có rắn “lỗ” - mà là tên quê
hương của Khổng Tử và Mạnh Tử.
Báo Quân Khu 3, số đặc biệt tết Quí
Tị vừa rồi, trang 38, bình bài thơ này, cũng viết với ý tương tự: “Bài thơ có nội dung ý tứ sâu sắc, dẫn cả
điển tích về Khổng Tử và Mạnh Tử, nước Lỗ là quê hương của Mạnh Tử” (và của
cả Khổng Tử). Vậy đã rõ.
Chúng ta
đều biết Lê Quí Đôn (1726 - 1784) là con nhà khoa bảng Nho học nổi tiếng Lê
Trọng Thứ. Cụ Lê Trọng Thứ đỗ tiến sĩ năm 1724. Tôi có tư liệu gốc, ghi, năm
1748, khi Lê Quí Đôn 22 tuổi, cụ là “Thiêm sai Đông các hiệu thư” của bộ Lễ. Ở
thời Lê, đạo Nho cực thịnh, là quốc đạo - mà bộ Lễ của triều đình làm nhiệm vụ “quản
Lý nhà nước”, như chữ chúng ta dùng bây giờ. Ai từng biết sơ qua về các cụ nhà
Nho, đều nhớ câu châm ngôn: “Thịt thái không vuông không ăn, chiếu trải không
vuông không ngồi, lời nói không có lễ nghĩa, không nghe”. Ngay Hồ Xuân Hương (Hồ
Xuân Hương thật 1772 - 1822, không phải Hồ Xuân Hương dân gian), theo lời của Tốn Phong, ghi ở đầu tập thơ Lưu
Hương kí của bà, tháng 3 năm Giáp Tuất (1814), thì thơ Hồ Xuân Hương "xuất phát từ cảm hứng nhưng biết dừng lại
ở phạm vi lễ
nghĩa. Vui mà không đến nỗi buông tuồng... thơ đúng phép mà văn hoa...” và Phạm Đình Hổ (1768 - 1839) tự thuật
trong Vũ trung tùy bút: “rất ghét thanh sắc, nghề cờ bạc, và những
chuyện rủ rê chơi đùa”. Ai nói
những điều ấy thì ông “bịt tai lại,
không muốn nghe”. Vậy mà thơ “truyền tụng Hồ Xuân Hương” còn cho ông là
người “ghẹo nguyệt giữa ban ngày”,
cho Hồ Xuân Hương, “cả cành đa lẫn củ
đa”, và chửi đời rất sảng khoái theo kiểu lưu manh: “Rày thì đù mẹ cái hồng nhan”. Đến thời Nguyễn, Bộ luật Gia Long (do bậc
nhất công thần nhà Nguyễn là Nguyễn Văn Thành làm tổng tài biên soạn) còn ghi: “Phàm quan văn võ ở đêm với con hát, hay đem con hát vào tiệc rượu, phạt 60
trượng”, nghĩa là giải ra công
đường, lột mũ áo, đánh cho 60 gậy rồi đuổi về vườn.
Phải nói
dài thế để thấy các nhà Nho rất trọng đạo lí và các khuôn phép, coi đó là lẽ
sống của mình. Có thể chết để giữ thanh danh chứ không vi phạm. Vậy thì làm sao
tin được một cậu bé học Nho, con nhà Nho, một nhà Nho quan trường, 8 - 9 hay 10
tuổi (tức là lúc bố cậu đã đỗ tiến sĩ từ 10 đến 12 năm, đang làm quan, ăn lộc
của triều đình Nho học, đang lo việc nhà nước về Nho học), sau khi bị cha đánh
đòn, cùng một lúc, bằng cả roi tre
và roi da (lằn lưng vì vết roi cha -
hoặc như bản in của Nguồn sáng dân gian: “Lằn lưng chẳng khỏi vệt năm ba ”. Rồi nữa, Đại
học khoa học Sài Gòn số Xuân Quí Tị
– Lằn lưng chẳng khỏi vết roi da, ) mà dám nói thẳng với cha rằng:
“Từ nay CỤ TỔ CỦA CHA (ĐƯỢC CÁC VUA THỜ Ở NHÀ THÁI MIẾU QUỐC TỬ GIÁM KINH ĐÔ
THĂNG LONG là con đây) xin siêng học”. Và nếu điều ấy xảy ra thực, thì pháp chế
phong kiến rất hà khắc, chắc chắn đã không để yên cho cha con cụ. Chúng ta đều
nhớ công thần bậc nhất của nhà Nguyễn là Nguyễn Văn Thành, người đánh thắng Tây
Sơn, góp công quan trọng nhất đưa Gia Long lên ngôi vua, cũng là người soạn Bộ
luật Gia Long và Quốc triều thực lục rất nổi tiếng,
chỉ vì bài thơ tặng bạn (viết về việc đánh cờ tướng) của con là Nguyễn Văn
Thuyên, bị kẻ tị hiềm xuyên tạc tố cáo mà bị tống giam, rồi chính vua Gia Long
đã hạ lệnh chém đầu Nguyễn Văn Thuyên và buộc đệ nhất công thần Nguyễn Văn
Thành phải tự xử bằng thuốc độc. Không có chuyện đùa khi nhà Nho đang học để đi
thi, hoặc đã làm quan cho nhà nước Nho học, lại xúc phạm các bậc Đại thánh của
nhà nước Nho học. Và bây giờ, nếu con các vị cũng nói rằng “Từ nay VUA HÙNG (là
con đây - cụ tổ của các cụ tổ của bố) xin siêng học, bố ạ” (ấy là tôi chưa nói
đến các vị còn linh thiêng hơn nữa khác - mới xứng với Cụ Khổng, Cụ Mạnh đối
với các nhà Nho) liệu các vị có chấp nhận được không? Và điều đó có xảy ra
không?
Do đó tôi
cho rằng, đây là bài thơ đời sau làm, được truyền tụng trong dân gian, rồi gán
cho Lê Quí Đôn, cũng như rất nhiều trường hợp khác đã xảy ra, chỉ kể vài trường
hợp, ví như bài thơ Văn tế cá sấu, được gán cho Hàn Thuyên, (bài của Hàn Thuyên
cùng tên đã thất lạc) bài thơ Vịnh núi Mèo (xã Yên Đức, Đông
Triều, Quảng Ninh - để phân biệt với bài thơ cùng tên ở Thanh Hoá) được gán cho
Trần Nhân Tông, bài thơ Một gánh càn khôn được gán cho Trần
Khánh Dư... và đặc biệt, một trường hợp rất phiền toái, đó là bài thơ Nam quốc
sơn hà... được coi là “Bản tuyên ngôn độc lập thứ nhất” của dân tộc “do
Lí Thường Kiệt viết”. Thực ra bài thơ này đã có từ thời Tiền Lê, có trước Lí
Thường Kiệt với trận đánh của ông ít nhất
là 95 năm, được chính thức gán cho Lí Thường Kiệt([2])...
Các bài trên kia, chỉ có vấn đề về thơ, hoặc
cùng lắm là có vấn đề về lịch sử văn hóa. Còn bài thơ này gán cho Lê Quí Đôn,
còn có vấn đề về đạo lí, về lễ nghĩa, về đạo đức, vô hình chung, đã cùng một
lúc, xúc phạm đến nhân phẩm của Lê Quí Đôn, một nhà bác học uyên thâm, một nhà
văn hoá lớn của dân tộc và đồng thời, cũng xúc phạm luôn cả cốt cách tiết tháo
nhà Nho rất cao quí của cụ thân sinh - tiến sĩ Lê Trọng Thứ rất khả kính. Người
đọc thoáng qua chỉ thích thú cái tài dùng chữ về các loại rắn mà dễ dàng bỏ qua
cái tâm, cái đức, cái đạo, đã bị vi phạm rất nghiêm trọng trong bài. Theo tôi,
cái đó với nhà Nho còn quan trọng hơn cả mạng sống của chính mình. Và như thế,
việc gán bài thơ khuyết danh - sáng tác theo phong cách dân gian này cho Lê Quí
Đôn, thật đúng với câu ca dao mà tôi nghe ở Thái Bình quê hương cụ: Yêu nhau như thế bằng mười phụ nhau.
Trong con mắt của những người có lễ nghĩa, có đạo đức, biết trọng gia phong và
trọng đạo học của cha ông, hình ảnh của nhà bác học Lê Quí Đôn và người cha
kính yêu của cụ, nhà khoa bảng Nho học Lê Trọng Thứ - đã bị xâm hại rất nặng
nề.
Với người thường, cụ Nguyễn Du còn nói: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, còn với nhà Nho thì không biết gấp lên
bằng bao nhiêu. Chính vì rất ngưỡng mộ cả đức và tài của hai cha con cụ, mà tôi
mới viết ra điều này, sau rất nhiều đắn đo. Rất mong được gia tộc của cụ và các
vị cao minh xem xét cho.
(1) Gần đây trong bài viết “Trả lại
tác phẩm cho tác giả”
của Thái Doãn Hiểu đăng trên trang mạng của Hội Nhà văn Việt Nam (vanvn.net),
câu thơ “Nhất
sinh đê thủ bái mai hoa” cũng được nêu rõ xuất xứ của nó, là của
Ngải Tuấn Mĩ (Trung Hoa), chứng tỏ điều đó được nhiều người quan tâm và đã đến
lúc ngã ngũ được rồi, để tránh sự nhầm lẫn cho các thế hệ sau.
No comments:
Post a Comment