Monday, July 22, 2013

Phê bình văn học chuyên nghiệp – một cái nhìn lịch sử

Phê bình văn học chuyên nghiệp – một cái nhìn lịch sử

Trần Đình Sử

Phê bình văn học vốn là phản ứng tự nhiên của người đọc đối với tác phẩm. Vì thế hình thức phê bình đầu tiên của con người là phê bình tự phát. Đọc xong một cuốn sách hay thì vỗ đùi khen, nếu đọc cuốn sách dở, buột miệng chửi một tiếng, hay khi trà dư tửu hậu, hoặc lúc dạo chơi với bạn bè, bàn bạc mấy câu về cuốn sách nào đó… Đó là phê bình tự phát. Loại phê bình này chủ yếu là phê bằng miệng, bằng động tác, như phẩy tay, dẫu miệng…đều là tự phát cả. Sau này trong các xa lông sang trọng của các bà quý tộc, các bà mệnh phụ sau cuộc chơi bài, đàm đạo mấy cuốn sách vừa xem, đó vẫn là phê bình tự phát. Anh Hoàng trong truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao, khi nghe vợ đọc Tam quốc diễn nghĩa, đến chỗ hay, vỗ đùi đánh đét khen :”Tài thật, Tài thật. Tài đến thế là cùng. Tiên sư anh Tào Tháo!”, “Tiểu thuyết thì nhất anh Tàu.” Đó cũng là phê bình tự phát. Phê bình tự phát có mọi nơi, mọi lúc, đồng hành cùng sinh hoạt văn học của con người. Dù cho phê bình chuyên nghiệp có chết hết đi thì phê bình tự phát vẫn sống. Phê bình tự phát khi thành dư luận mạnh mẽ buộc phê bình chuyên nghiệp phải nhào vô giải thích. Phê bình tự phát thường có ba nhược điểm. Một là thường nói theo, nói leo. Người đã đọc sách nhận xét đã đành, người không đọc cũng nghe rồi nói theo, bàn tán, thực ra là nói mò. Hai là phê bình tự phát dễ biến thành ý kiến nhóm, có thói quen riêng, thiếu cái nhìn toàn bộ, dễ thiên lệch. Ba là dễ chạy theo thời thượng, đồng thời cũng nhanh chóng bị thay thế, thiếu bền vững, hôm nay vừa khen, ngày mai thấy nói khác, lại nói theo, số phận ngắn ngủi. Có một thời, sách xuất bản xong liền có cán bộ đi thu thập ý kiến bạn đọc các giới, kết quả thu được chỉ là các dư luận như thế, rất ít tính khoa học. Tất nhiên phê bình chuyên nghiệp cũng góp phần định hướng cho phê bình tự phát, giúp nó sâu sắc hơn.
Phê bình chuyên nghiệp là thứ phê bình khác, nó có nhiệm vụ riêng, yêu cầu riêng, là sản phẩm của sự phân công lao động xã hội. Theo A. Thibaudet, nhà tư tưởng Khai sáng Pháp là Voltaire (1694 – 1778) có lần nói: “Trong các nước hiện đại, khi người ta chú tâm phát triển văn học thì nảy sinh loại phê bình chuyên nghiệp. Người này cũng giống như các ông thú y ngoài chợ, hàng ngày đi kiểm tra các loại lợn đem bán, nếu có bệnh thì cấm bán, nếu lành thì đóng dấu cho lưu hành.” Như thê người phê bình chuyên nghiệp đầu tiên có thể coi giống như nhân viên thú y kiểm dịch ngoài chợ, thấy có bệnh thì kêu lên, để mọi người tránh xa, không mua hàng đó. Cứ theo chức năng đó thì nhà phê bình chuyên nghiệp kiểm dịch đầu tiên của nhân loại phải kể đến là Đức Khổng Tử, người Tàu. Ông này sống vào năm 552 – 479, trước Platon (427-327), người Hi Lạp 100 năm. Khổng Tử đã chọn lựa trong hàng vạn bài ca dao, dân ca của các nước trong lãnh thổ Trung Hoa cổ đại, chọn lấy 305 bài, theo tiêu chí “tư vô tà”, tức là tư tưởng không có gì sai trái, lệch lạc, đồi trụy, có thể lưu hành. Còn các bài khác đã bị ông vứt bỏ, thất truyền hết. Tuy nhiên, ông là bậc thầy lỗi lạc, ông đã  lấy ngôn chí, tải đạo làm gốc, có sự thống nhất giữa mĩ và thiện, chấp nhận thi ca có thể hứng, quan, quần, oán, văn chất thống nhất với nhau, cho nên tuy chỉ chọn có 305 bài mà gồm đủ thi ca nhiều nước, các tác phẩm xuất sắc, đa dạng. Platon thì quá cực đoan, ông coi thi ca (văn học ) đều là dịch, thế là ông đuổi nó ra khỏi nước Cộng hòa lí tưởng của ông.
Loại phê bình chuyên nghiệp thứ hai theo cách hiểu của Thibaudet là phê bình văn học về phương diện nghề nghiệp. Nội dung này đổi thay theo lịch sử. Trước hết nó bao gồm phê bình theo các quy tắc sáng tác mà chủ yếu là quy tắc thể loại, phong cách, tức là thi pháp học. Người đầu tiên thuộc loại này là Aristote (384 -322), viết sách Thi pháp học, Tu từ học, tuy thiên về lí thuyết, nhưng ông cũng đã phân tích các tác phẩm kịch của Eschyle, Sophocle về các mặt quy tắc thể loại. Tiếp theo là Longinus (213-278) bàn về caí cao cả. Đến thế kỉ thứ 5 sau công nguyên mới xuất hiện nhà lí luận nổi tiếng Trung Quốc Lưu Hiệp (sinh khoảng 465, năm mất không rõ) viết Văn tâm điêu long bàn về phép làm văn, các thể loại, các phong cách. Ở phương Tây đến thế kỉ XVII loại phê bình theo tiêu chí quy tắc thể loại này đạt đến toàn thịnh.
Tuy phê bình theo quy tắc thể loại, nhưng họ lại xử lí tác phẩm theo quy tắc kiểm dịch, nghĩa là tác phẩm nào không theo đúng quy phạm thể loại là bị chê. Theo Thibaudet cho biết, thế kỉ XVII Tể tướng Pháp là Richelieu đem áp đặt cho Viện Hàn lâm Pháp loại phê bình kiểm dịch này. Bất đắc dĩ Viện Hàn lâm Pháp phải chấp nhận, nhưng chỉ làm một lần duy nhất rồi thôi. Ở Trung Quốc xưa phê bình kiểm dịch thực hiện việc phát hiện các vụ án văn tự ngục khiến bao nhiêu văn sĩ rơi đầu. Truyền thống này léo dài đến thời Mao, thời Cách mạng văn hóa. Ở nước ta trong thời kì bắt đấu xây dựng chủ nghĩa xã hội phê bình chuyên nghiệp cũng thực hiện nhiệm vụ kiểm dịch, chỉ ra các biểu hiện tư sản, phản động, đồi trụy, xét lại, bôi đen chế độ…Thực tế lịch sử cho thấy loại phê bình này tuy có tính chuyên nghiệp, đúng hơn là tính nghiệp vụ, song chất lượng thực tế có nhiều vấn đề đáng bàn, có nhiều sai sót và nhiều khi gây hậu quả không thể sửa chữa được.
Ở phương Tây phê bình chuyên nghiệp về nghệ thuật đã phản ứng rất mạnh với phê bình kiểm dịch. Có lần một nhà phê bình, hình như Jean Chapelaine thì phải, chỉ trích tác phẩm của Corneille, Nicolas Boileau liền bỏ ra ngoài, không nghe.  Từ đó về sau phê bình chuyên nghiệp phương Tây chuyển sang phê bình hàn lâm, khoa học. Ở phương Đông hình như muộn hơn một chút, bắt đầu từ thời Ngụy Tấn, túc là khi tư tưởng đại nhất thống, độc tôn nho học sụp đổ. Đó là vào thời gian từ thế kỉ I CN cho đến thế kỉ VI CN. Sau đó là thời Tùy Đường, Ngũ đại. Sau Lưu Hiệp là Chung Vinh, tiếp theo là các nhà thi thoại, bắt đầu từ Lục nhất thi thoại của Âu Dương Tu. Ở Trung Quốc nói chung không có nhà phê bình chuyên nghiệp, phần lớn là các nhà thơ, có làm quan hay ở ẩn, vừa sáng tác vừa kiêm bàn về thi ca cũng rất chuyên nghiệp theo lối sành sỏi, chứ không phải theo phân công xã hội.  Đến đời Minh Thanh mới có các nhà bình điểm tiểu thuyết đóng vai trò phê bình chuyên nghiệp. Ví như Kim Thánh Thán, ông không sáng tác mà chỉ bình điểm (phê bình). Đặc điểm chung của phê bình chuyên nghiệp lúc này là phê bình về phong cách và thể loại, cách đọc.
Mặc dù nêu ra nguyên tắc mô phỏng tự nhiên, song các nhà phê bình phương Tây đều quan tâm mô phỏng để sáng tạo thể loại, chứ không phải sáng tạo đối tượng. Khi Aristote viết: “Cái mà bi kịch mô phỏng không phải là con người, mà là hành động, đời sống của con người…Bi kịch là sự mô phỏng hành động, chủ yếu là để mô phỏng hành động, mới mô phỏng con người trong hành động.” Câu này nói lên rằng sự mô phỏng tự nhiên trong học thuyết của Aristote chỉ nhằm để sáng tạo ra hình thức của nghệ thuật. Đỉnh cao của phê bình thể loại ở phương Tây là thời kì chủ nghĩa cô điển thế kỉ XVII. Mọi tác phẩm đều được xét theo quy tắc thể loại. Các nhà phê bình quyền uy như Jean Chapelaine rồi Nicolas Boileau tiếp theo nhau xác định nguyên tắc “tam duy nhất” và Chapelaine đã buộc các nhà viết kịch đi theo quy tắc này. Mô phỏng tự nhiên chưa hề là yêu cầu để xem xét về nội dung của nghệ thuật đối với hiện thực. Lưu Hiệp, Chung Vinh, các nhà thi thoại, các nhà bình điểm chủ yếu đều chỉ phê bình thể loại và phong cách mà thôi. Chính truyền thống này đã ảnh hưởng đến phê bình văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan chủ yếu là các nhà phê bình về phong cách và quy tắc thể loại. Nói đến tính chuyên nghiệp có nghĩa là chuyên nghiệp trong các lĩnh vực đó, chứ không phải là chuyên nghiệp theo kiểu lấy phê bình để làm kế sinh nhai như sau này nhiều người hiểu lầm. Trên đời xưa nay trừ các nhà quý tộc, không ai sống được bằng nghề phê bình.
Từ thế kỉ XVIII ở phương Tây các nhà phê bình lãng mạn chủ nghĩa mới dần dần bác bỏ nguyên lí mô phỏng có từ thời cổ đại và bắt đầu quan tâm đến mối quan hệ văn học với  tính chân thực của tình cảm và tưởng tượng, hư cấu. Lúc này nghệ thuật không mô phỏng tự nhiên nữa, mà dùng trí tưởng tượng và tình cảm làm biến đổi hình ảnh về hiện thực. Theo M. H. Abrams trong sách Gương và đèn – lí luận chủ nghĩa lãng mạn và phê bình văn học truyền thống (1953) đã tổng kết quan niệm văn học và hiện thức theo quan điểm lãng mạn chủ nghĩa như sau: 1) Thơ chân thực bởi vì nó phản ánh một hiện thực siêu vượt lên trên thế giới cảm giác; 2) Thơ chân thực, bởi vì bài thơ là một tồn tại, có giá trị, là sản phẩm nảy sinh từ tình cảm thực tế và kinh nghiệm của trí tưởng tượng; 3) Thơ chân thực bởi vì nó  đối ứng với những sự vật hàm chứa tình cảm và trí tưởng tượng của người quan sát, hoặc bị các yếu tố đó làm biến đổi. Phê bình phải đi tìm sự khác biệt của văn học so với tự nhiên do tình cảm và trí tưởng tượng tạo nên. Vậy là nhiệm vụ của phê bình văn học đã thay đổi so với truyền thống.
Bước sang đầu thế kỉ XIX quan niệm văn học thay đổi khiến cho nhiệm vụ của phê bình văn học cũng thay đổi theo. Quan niệm khoa học, quy luật tiến hóa, chủ nghĩa thực chứng đã xem văn học là sản phẩm của lịch sử. Honoré Balzac tuyên bố nhà văn là người thư kí của thời đại, E. Zola coi sáng tác là thực nghiệm khoa học. K. Marx, F. Engels coi văn học là nhận thức xã hội, nhân vật văn học phải thể hiện cái bản chất giai cấp mà nó đại diện. Tính cách điển hình là sản phẩm của hoàn cảnh điển hình, cả hai là sản phẩm của lịch sử. V. N. Belinski coi nhiệm vụ văn học là sáng tạo các điển hình, những người lạ quen biết. Giá trị văn học phụ thuộc vào đối tượng mà nó phản ánh. Đây là điển hình của tầng lớp tư sản đang lên, kia là điển hình của tầng lớp hiệp sĩ lỗi thời, nọ là điển hình của lớp người thừa. Thắng lợi của chủ nghĩa hiện thực là hình tượng chân thực đi ngược lại thế giới quan và thiện cảm chủ quan của nhà văn. Nhiệm vụ của phê bình văn học là chỉ ra cái hoàn cảnh, điều kiện lịch sử, và con dường dẫn đến các điển hình văn học. Saint Beuve chỉ ra yếu tố tiểu sử, Hyppolyte Taine chỉ ra ba nhân tố tạo ra văn học nghệ thuật: chủng tộc, địa lí, thời cơ. Brandes kết hơp cả hai lí thuyết mà viết nên các trào lưu văn học châu Âu thế kỉ XIX. Gustave Lanson vận dụng các yếu tố ngoại tại để viết lịch sử văn học Phấp. Toàn bộ phê bình văn học đi tìm các nhân tố ngoại tại để giải thích văn học. Nhiều nhà phê bình văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 tiếp thu các trào lưu phê bình này. Ví dụ Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm so với Lịch sử văn học Pháp của Lanson.
Với sự thành công của cách mạng vô sản ở Nga rồi lan ra các nước Đông Âu, Á châu, Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, Triều Tiên, quan niệm của văn học lại thay đổi. Văn học là công cụ tuyên truyền lí tưởng cộng sản, đối tượng biểu hiện là công nông binh, đề cao tính giai cấp, phủ nhận tính người, ca ngơi chế độ mới chuyên chính vô sản, văn học và phê bình đều là vũ khí phê phán mọi lực lượng thù địch. “Lấy cán bút làm đòn xoay chế độ, Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền”. Thơ ca là tạc đạn, là vũ khí tấn công, thực hiện nhiệm vụ chuyên chính vô sản. Phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa thực chất là vũ khí miêu tả hiện thực theo quan niệm của Đảng, là công cụ để giáo dục lí tưởng cộng sản cho nhân dân. Văn học hoàn toàn biến thành chính trị hóa, phê bình là công cụ đấu tranh chính trị, phê phán mọi tư tưởng trái với tư tưởng của chủ nghĩa Mác Lênin, Mao Trạch Đông, đường lối của Đảng. Phê bình văn học trơ thành công cụ sát phạt các tư tưởng khác mình. Phê bình cũng ngợi ca các mẫu mực của văn học cách mạng theo quan điểm của Đảng. Đáng tiếc, theo thời gian phần nhiều các tác phẩm mẫu mực ấy ngày càng mất giá, rất ít tác phẩm còn đứng được với thời gian, ngoại trừ chủ yếu là các tác phẩm thể hiện lòng yêu nước nồng nàn, sự hi sinh cao cả trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Đó là một nhiệm vụ phê bình văn học hết sức đặc thù, chỉ hợp với tính chất không bình thường của thời chiến.
Ở các đô thị miền Nam, trong bối cảnh chính trị khác đã tiếp thu các hệ hình mới của phê bình văn học phương Tây từ đầu thế kỉ XX đến sau thế chiến II và đã hình thành những phong cách, có những tìm tòi và thành tựu.
Nhưng rồi các cuộc chiến tranh cũng kết thúc, chiến tranh lạnh cũng tiêu tan. Phe xã hội chủ nghĩa đã sụp đổ.  Cuộc sống trở lại thời bình. Những kẻ thù từng đánh nhau đang chuyền dần sang đối tác làm ăn có hiệu quả, trong khi có người bạn lộ rõ dã tâm xâm chiếm lãnh thổ. Hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa kinh tế và tri thức. Sự giao lưu, tiếp xúc văn học Việt Nam với thế giới cởi mở chưa từng thấy. Với các điều kiện đó, phê bình văn học Việt Nam đã đổi thay hoàn toàn. Chúng ta đang tìm hiểu, dịch thuật, tiếp nhận nhiều cách tiếp cận mới từ những năm 60 trở lại đây của phương Tây. Nhiệm vụ phê bình trở lại với thông lệ của nó với một độ mở mới.
Phê bình văn học có nhiệm vụ đặc thù của nó. Nói chung, bất cứ nền phê bình văn học nào cũng có bốn nhiệm vụ chính phải làm. Phê bình văn học Việt Nam hiện nay nói chung cũng không ngoại lệ. Một là nghiên cứu, miêu tả các thể loại, ngôn ngữ văn học, diễn ngôn đương đại và thế kỉ XX cùng những biến đổi của chúng theo thời gian. Đó là nhiệm vụ mà bất cứ nền phê bình văn học bình thường nào cũng phải làm. Hai là miêu tả, phân tích mối quan hệ giữa văn học đương đại, văn học thế kỉ XX với văn học truyền thống dân tộc cũng như sự ảnh hưởng, sự tiếp nhận văn học nước ngoài để phát triển văn học dân tộc. Không một nền phê bình văn học nào trong bối cảnh như hôm này mà từ chối công việc đó. Ba là sắp xếp, liệt hạng đối với các tác gia, các thế hệ của các nhà văn thế kỉ XX và đặc biệt là nhà văn đương đại. Việc này ít nhất cũng được phản ánh một phần trong các giải thưởng văn học, các giải thưởng nhà nước và giải thưởng Hồ Chí Minh. Vì các lí do tế nhị chúng ta chưa có sự xếp hạng toàn bộ các nhà văn thế kỉ XX, tác giả tại các đô thị miến Nam vùng tạm chiếm. Nhưng chân dung, sáng tác của các nhà văn thì đã được khắc họa, phân tích khá rộng rãi. Bốn là phân biệt và nghiên cứu các xu hướng văn học trong quá trình vận động của một thế kỉ. Văn học Việt Nam hiện đại đang có những khuynh hướng nào, thàh tự mối khuynh hướng ra sao, nhà phê bình không thể không cho người đọc biết. Tác phẩm văn học đương đại ùn ùn như một dòng thác, phê bình không đọc xuể, phải có thời gian, độ lùi mới nhìn kĩ được, nhưng các tên tuổi hàng đầu vẫn được nhận ra. Vấn đề nghiên cứu các khuynh hướng sáng tác vẫn đang là khâu trống, do nhiều lí do khác nhau. Các nhiệm vụ đó đều phải do các nhà phê bình chuyên nghiệp thực hiện, những người không chuyên không ai có thể làm thay được cho họ. Nhiệm vụ này hiện đang gặp khó khăn, các tiêu chí hoặc nặng về chính trị hoặc do có nhiều lí thuyết, khi phát biểu ra sẽ có nhiều ý kiến trái chiều. Nhưng đó là điều tất yếu trong thời hội nhập mà nhà phê bình phải vượt qua. Hiểu như vậy thì chuyên nghiệp và nghiệp dư không thể nào lẫn lộn được. Người nghiệp dư không thể làm được công việc của người chuyên môn, trái lại một khi đã là nhà chuyên môn rồi, họ không thể nghiệp dư hóa trở lại được. Chỉ có các quan điểm nghiệp dư thì mới lẫn lộn hai thứ đó vơi nhau.
Xét theo bốn nhiệm vụ nêu trên thì nói chung phê bình văn học Việt Nam đang làm tốt, chỉ có chất lượng chưa đồng đều. Vấn đề là phê bình chuyên nghiệp cần phải được đánh giá một cách chuyên nghiệp. Ở Việt Nam thường có chuyện người chuyên môn được đánh giá bởi người không chuyên môn. Truyền thống này bắt đầu từ cuôi những năm 40 trong thời chống Pháp, khi khái niệm “quần chúng phê bình” được đề xuất trong các cuộc tranh luận văn học nghệ thuật, nhằm để vô hiệu hóa các nhà chuyên môn. Hiện nay, khi đánh giá phê bình chúng ta thường không căn cứ vào các nhiệm vụ cụ thể, chuyên môn của phê bình văn học, các công việc cụ thể mà phê bình phải làm, mà căn cứ vào các yêu cầu chính trị, nhiệm vụ chính trị, các công thức tư tưởng chung chung thời nào cũng đúng, ai cũng nói được, như phê bình lạc hậu so với sáng tác văn học, lạc hậu so với thực tế đời sống, phê bình sính ngoại… Nội dung các khái niệm này phần nhiều mù mờ, cần phải được thảo luận kĩ lưỡng. Rất khó mà nói phê bình lạc hậu so với sáng tác. Ngay bây giờ mà đánh giá các tác phẩm đầu thế kỉ XX vẫn chưa thể coi là muộn hay lạc hậu, nếu như nhìn theo quan điểm lí thuyết hậu thực dân. Đánh giá một tác phẩm mới ra như Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư theo quan điểm điển hình cũ thì lại rất lạc hậu. Ở đây muốn tránh lạc hậu phải có tư tưởng lí thuyết tiên tiến. Mà các lí thuyết tiên tiến hiện nay chủ yếu đều có nguồn gốc tư sản phương Tây. Các tác phẩm mới ra nhiều khi phải có độ lùi cần thiết mới đánh giá đầy đủ được, như thế, phê bình mà “lạc hậu” so với sáng tác thì lại hợp quy luật, còn tác phẩm vừa ra đời mà đánh giá ngay nhiều khi bất cập, ví như khen thơ của Hoàng Quang Thuận. Chỉ có thể yếu cầu phê bình kịp thời theo nhiệm vụ chính trị mà mỗi kì Đại hội hay mỗi Nghị quyết của Trung ương  mới ra, “đưa nó vào cuộc sống sinh động”, mà làm được như thế thì chỉ có phê bình chính trị mà thôi. Phê bình chuyên nghiệp mà được đánh giá một cách không chuyên nghiệp thì số phận của nó không nói cũng biết rồi. Kết quả đã được biết trước khi đánh giá, thậm chí không nghiên cứu, chỉ nghe một vài dư luận cũng đánh giá được. Hoàn cảnh lịch sử của đất nước đã đổi thay rồi, mà tiêu chí đánh giá phê bình thì không thay đổi kịp. Chúng ta vẫn nói theo ngôn ngữ cũ của thời chiến: “phê bình trực chiến”, “đội ngũ phê bình”, “nhà phê bình là chiến sĩ”, “mặt trận văn nghệ”, “nâng cao tinh thần chiến đấu chống các luận điệu sai trái”…Tại sao nhà phê bình lại nhất thiết là chiến sĩ? Khi đã làm chiến sĩ rồi, liệu có còn là nhà phê bình? Chẳng lẽ chiến tranh kết thúc đã gần 40 năm mà ngôn ngữ phê bình không có sự thay đổi hay sao? Phải chăng vấn đề hiện nay là tiêu chí đánh giá phê bình không theo kịp thực tiễn phê bình? “Phê bình kiểm dịch” vẫn có người thực hiện, và thường xuyên nhận được các giải cao của các cơ quan Đảng và Nhà nước, các cơ quan luôn mở lòng khuyến khích rất hậu, bởi nó đáp ứng nhu cầu của công tác chính trị. Nhưng theo chúng tôi, đó là nhiệm vụ chính trị đặc biệt, không phải là nhiệm vụ chung, bình thường của toàn bộ nền phê bình văn học thời bình của một nền văn học đang có đà phát triển. Nhà nước cần khuyến khích mọi loại hình phê bình chuyên nghiệp. Bởi có như thế thì phê bình chúng ta mới tiến kịp các nước tiên tiến. Cứ theo tiêu chí “tính chiến đấu” của phê bình chính trị mà đánh giá thì nói chung hầu hết những ai làm công tác phê bình văn học bình thường khó lòng được chấp nhận xứng đáng. Thiết nghĩ nên đánh giá nền phê bình văn học của ta theo nhiệm vụ mà bất cứ nền phê bình văn học nào của bất cứ nước nào đều thực hiện đối với nền văn học của họ, như thế sẽ công bằng với nền phê bình văn học hiện nay hơn và thúc đẩy phê bình phát triển.
Phê bình văn học luôn đổi thay theo lịch sử. Nhìn phê bình theo quan điểm lịch sử ta sẽ thấy sự đổi thay các giai đoạn, các hệ hình phê bình khá rõ ràng. Khi giai đoạn lịch sử đã đi qua mà vẫn muốn khuôn phê bình theo yêu cầu cũ thì sẽ trói buộc và hạn chế sự phát triển của phê bình và suy cho cùng cũng hạn chế luôn sự phát triển của bản thân văn học dân tộc.
20 – 7 -  2013.
(nguồn Trần Đình Sử blogs)

Trang tử – “ông tổ ngông“ trong văn học

Trang tử – “ông tổ ngông
trong văn học

       Trang Tử là nhà triết học độc đáo nhất trong bách gia thời Chiến quốc. Trước tác của ông do không nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề đạo đức và chính trị cho nên giàu chất triết học nhất. Cũng do ông phát huy sức mạnh tưởng tượng tài hoa để lý giải các vấn đề trừu tượng, phổ quát mà tác phẩm của ông lại giàu chất nghệ thuật nhất. Với các tính chất đó, Trang Tử đã có ảnh hưởng sâu rộng trong tiến trình văn học Trung Quốc và tác động tới tư tưởng học thuật của các nước lân cận như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam.
Các tác giả lớn không chỉ gây ảnh hưởng bằng tư tưởng, học thuật, mà còn gây ảnh hưởng bằng chính phong cách sống, thái độ sống. Trang Tử đã truyền lại cho đời sau một phong cách ngông, tư thế ngông, trở thành “ông tổ ngông” trong văn học.
     Cách đây chừng chín năm (1990), trong một bài viết về ý thức cá tính trong văn học cổ Việt Nam, chúng tôi đã sơ bộ nhận xét, xem ngông là một biểu hiện cá tính độc đáo thời trung đại. Theo chúng tôi, tài tử không phải là người tài theo quan niệm thông thường, mà là kẻ lấy ngông làm tài, tài thoát ra thói tục, vì vậy mà nó gắn rất chặt với tài tình. Các tác giả nổi tiếng như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Cao  Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Tú Xương, Tản Đà rồi Nguyễn Tuân sau này,…, không ai là không ngông, mỗi người ngông một vẻ. Vậy cội nguồn văn hoá của hình thức cá tính ấy là ở đâu ? Thiết nghĩ, ngoài các nguyên nhân của đời sống văn hoá dân tộc Việt Nam, còn phải tìm đến những mẫu gốc văn hoá xa xưa từ trong triết học Trung Quốc, một nền triết học đã để lại dấu ấn sâu đậm trong văn hoá Đông Á và Việt Nam. Nếu phải tìm ở đó một người tiêu biểu nhất cho tính ngông thì không ai ngoài  Trang Tử.
     Thật vậy, Trang Tử không chỉ là người sống ở thế kỷ IV – III trước Công nguyên, mà còn là người có nhiều hành vi mang tính giai thoại ngông nhất trong bách gia chư tử. “Ngông” người Trung Quốc gọi là “cuồng”. Ba người ngông nổi tiếng đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc có lẽ là Khuất Nguyên, Mạnh Tử, Trang Tử. Mạnh Tử là người cao ngạo tự phụ trong việc khẳng định nhân cách lý tưởng của đạo Nho. Khuất Nguyên quá ư luyến chúa nên khi bị xua đuổi đã cho mình là sạch nhất, tỉnh nhất, rồi phẫn uất tự sát, trở thành kẻ ngu trung đệ nhất trong lịch sử. Trang Tử ngông với lý tưởng “thích chí”, độc lập nhân cách, tự do ngao du trong cõi đạo. Ngông của Trang Tử gắn với ý thức khẳng định con người tự tại, tự do cho nên đã có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong văn học.
     Người ngông đối lập với đám người trung dung, thuận theo lề thói một cách ngoan ngoãn. Người trung dung hay phụ hoạ theo quần thể, phủ nhận tự do cá nhân, người ngông chạy theo cá tính tự do, thích cực đoan. Người trung dung tự rèn luyện để thành tôi trung con hiếu, nghĩa phu tiết phụ, nhưng cũng tạo ra những kẻ a dua, nói theo giả dối. Người ngông coi khinh lễ, phép, ghét tục, ngạo đời, nói năng ngang tàng. Trong thực tế người ngông là kẻ đã làm tan rã các phép tắc giả tạo trói buộc con người, mở ra một luồng gió mát giàu sinh khí. Chính Khổng Tử là người đầu tiên khẳng định ý nghĩa của người ngông (cuồng, quyến). Trong thiên Tử Lộ ông nói : “Cần phải có bọn ngông cuồng. Bọn cuồng thích tiến thủ, bọn tiết tháo biết những việc không nên làm”. Ông hiểu “cuồng” là có ý ương bướng, ngang tàng, phóng đãng. Bọn này tuy có điều đáng ghét song lại có điều đáng quý là biết nêu ra cái mới, cái khác, mà người đời không hiểu, lại gọi là “cuồng”. Trong triết học trung dung con người chỉ biết những việc không nên làm, theo lối cũ,  mà ít có chí tiến thủ, cho nên Khổng Tử mới nghĩ đến bọn ngông. Nhưng trong đám học trò của ông, Tử Lộ, Tăng Tích chỉ là những “tiểu ngông”. Trang Tử mới thực sự là đại ngông.
     Trang Tử có nhiều giai thoại ngông nhất. Trang Tử coi thường lệ tục. Vợ Trang Tử mất, Huệ Thi đến viếng thì thấy Trang Tử đang gõ vò mà ca. Trang Tử sang Sở thấy một bộ xương sọ liền lấy roi ngựa gõ vào xương sọ mà trò chuyện, trái với thái độ tôn trọng người chết của mọi người. Trang Tử khinh miệt và từ chối làm quan. Sở Uy Vương mời Trang Tử làm Tể tướng, Trang Tử từ chối, coi ngôi vị Tể tướng như con bò được cho mặc áo gấm để dắt vào làm lễ tế giao ở Thái miếu. Một lần khác Sở Vương cho người mời Trang Tử làm quan thì Trang Tử khinh chức quan như con rùa khô để thờ. Trang Tử coi thường cái chết. Ông từ chối học trò hậu táng, lấy cớ “Ta có trời đất để làm quan quách, mặt trời mặt trăng là ngọc bích, các tinh tú làm ngọc châu, vạn vật sẽ đưa ma ta… Còn phải thêm gì nữa”. Khi học trò lo xác thầy bị quạ rỉa, Trang Tử nói, chôn dưới đất thì bị sâu bọ đục, có khác gì ! Trang Tử coi đời là một cuộc chơi, vô vi, tiêu dao, tốt cho mọi người, mọi vật. Trong bách gia chư tử, Trang Tử là người nói tới chơi (du) nhiều nhất trong trước tác. Có người thống kê nhận xét : Luận ngữ có 5 chữ “du”, Mạnh Tử 8 chữ, Chu dịch 2 chữ, Hàn Phi Tử 39 chữ, còn Trang Tử có đến 96 chữ “du”, một con số kỷ lục. Hai chữ “tiêu dao” thì hầu như là do Trang Tử sáng tạo, trong chư tử không đâu có. Chơi là một thái độ siêu thoát, tự do, đùa cợt. Ông có thái độ “du thế”  đùa với đời, bên cạnh việc du sơn ngoạn thuỷ, nhưng chính thái độ “du thế” mới là ngông nhất, khiến Trang Tử trở thành ông tổ của quan niệm cợt bỡn nhân sinh. Ngôn ngữ của Trang Tử lại càng ngang tàng. Chính thái độ khinh bỉ cuộc sống xã hội thối nát đã khiến ông ăn nói bộc trực, khác đám người trung dung. Trang Tử mộng hoá thành bướm. Ông nói Trang Chu mộng hoá bướm là đại hạnh, còn bướm mộng hoá thành Trang Chu là bất hạnh, ông dại gì chuốc lấy bất hạnh mà theo giấc mộng của bướm ! Thật là một sự phủ định sảng khoái. Người đời thích sự hữu dụng. Trang Tử lại ca ngợi sự vô dụng, thật là ngược đời !
Trong sách Trang Tử, không chỉ Trang Tử ngông, mà nhân vật của ông cũng ngông. Tống Nguyên Quân cho mời các hoạ sĩ đến vẽ bản đồ. Các hoạ sĩ khác đều đến, vái chào cung kính, mài mực chờ đợi sai phái, chen nhau đứng đầy một sân. Có hoạ sĩ đến sau ra mặt một vái rồi về nhà cởi trần, xoạc cẳng ngồi đợi. Tống Nguyên Quân cho người đi theo dõi và khen : đó mới là hoạ sĩ thật, vì anh ta tự do tự tại, không bị lệ thuộc vào kẻ khác ! Lời đánh giá của Tống Nguyên Quân cũng ngông ! Ông Hồng Mông suốt ngày chỉ chơi như trẻ con. Khi Tướng Vân đến hỏi thì ông khuyên chỉ nên chơi, chớ học gì, chớ tìm biết gì ! Cái đầu lâu của Trang Tử cũng ngông. Khi Trang Tử tỏ ý sẽ xin đắp da thịt cho bộ xương để hắn về nhà thăm lại người thân, thì đầu lâu từ chối : tôi đang sướng như vua, tội gì lại trở về cho khổ !
Ngông của Trang Tử là hình thức siêu quần, xuất chúng, thoát tục nhằm khẳng định một thế giới tự do, tự tại, độc lập, không phụ thuộc vào ngoại vật. Ngoại vật theo ông bao gồm : một nhà sinh mệnh thọ, yểu, bần, phú, quý, tiện, chức quyền ; hai là buồn, vui, giận, hờn ; ba là các tri thức, quan niệm, tư tưởng, lễ tục, khen chê. Các thứ đó đều tạm thời, là kiến thức nhìn qua cái ống, giả tạo và hạn hẹp. Do vậy chỉ có siêu thoát khỏi các thứ đó thì  mới được tự do, tự tại, thích chí ! Cái ngông Trang Tử mang tính nghịch lý : bề ngoài trái thường, trái với lẽ phải thông thường, mà bên trong mở ra một chân trời khác. Nhà triết học Trung Quốc đương đại Lý Trạch Hậu khẳng định : “Cái đạo của Trang Tử không hề là bản thể tự nhiên mà là bản thể người. Ông nâng cao con người với tư cách là bản thể lên tầm cao vũ trụ, cũng tức là nêu lên tính đồng nhất tồn tại trong bản thể người với tồn tại tự nhiên của vũ trụ”. Vậy là cái ngông của Trang Tử hướng tới khẳng định tự nhiên con người nên tinh thần của ông tương tự như tư tưởng hiện sinh, khẳng định tồn tại có trước bản chất, nếu hiểu bản chất là toàn bộ sự quy định của ngoại vật. Cho nên cái ngông của Trang Tử là cái ngông của tinh thần triết học, ngông của trí tuệ, cao siêu, khác hẳn cái ngông của kẻ ngu dốt liều lĩnh. Đó có thể coi là hành động nổi loạn chống lại mọi thứ “vi” tạo tác giả tạo, trái tự nhiên làm cho cuộc sống bị gò bó vô ích. Ngông của Trang Tử là cái ngông giải phóng cá tính, “nhậm tính”, “nhậm tình”, buông thả tình cảm, nhằm dưỡng sinh, thích chí. Nó khác cái ngông của Đông Phương Sóc đời Hán, tuy có vẻ bỡn cợt thời thế, mà chỉ một mực trung thành với triều đình. Trái lại, Trang Tử là người đầu tiên trong lịch sử triết học Trung Quốc nhấn mạnh tới tự do cá nhân, tự giác tìm kiếm tự do, khinh đời, ghét tục, ngạo mạn bất quần. Đương thời Trang Tử rất cô độc, không mấy ai hiểu ông.
Mãi đến khi tư tưởng đại nhất thống sụp đổ vào đời Nguỵ Tấn thì Trang Tử là người được tôn xưng, được nhiều người sùng bái, bắt chước. Kẻ sĩ thời Nguỵ Tấn từ chỗ lo vua, lo nước, chuyển sang lo cho mình, trọng cá nhân, trọng tình cảm, trọng dục vọng, thích làm những hành vi độc đáo, và Trang Tử trở thành tấm gương. Nhưng nếu Trang Tử chú trọng tự do tâm hồn thì người thời Nguỵ Tấn vừa trọng tâm hồn lại vừa quý thân. Nguỵ Văn Đế Tào Phi coi khinh lễ tiết, chuộng tự nhiên. Khi Vương Xán chết, Phi cùng mọi người đến viếng và đề nghị : khi sống Xán thích nghe tiếng lừa kêu, mọi người hãy kêu như lừa để đưa tiễn ông ta. Thế là mọi người đều hý như lừa để tỏ lòng tưởng nhớ ! Đới Chấn thị tài, khinh thói tục. Khi mẹ chết vẫn ăn thịt, uống rượu như thường. Lúc mọi người chất vấn trái lễ, Chấn nói : tôi ăn mà không thấy ngon gì cả thì vẫn có hiếu chứ sao ! Chấn xem lễ tục là ngoại vật. Khổng Dung phủ nhận quan hệ huyết thống tôn ty của Nho giáo. Ông nói con đối với mẹ như vật để trong bình, khi đẻ con là dốc bình để đổ vật ra, thì vật còn có quan hệ gì với bình ! Những lời lẽ “vô đạo” ấy muốn mở rộng cách hiểu, giải phóng tư tưởng ! Trương Hủ nêu cao tư tưởng “nhân sinh quý thích ý”, đã trở thành khẩu hiệu cho nhiều người mà sau này Nguyễn Công Trứ sẽ lặp lại. Lưu Linh chỉ thích rượu say. Nguyễn Tịch lên núi Quảng Vũ Sơn, nhìn chiến trường Hán Sở mà nói : “Thời đại không có anh hùng, khiến bọn nhãi ranh trở thành danh !”. Ông khinh cả Lưu Bang, Hạng Vũ. Khi mẹ chết, Tịch ăn hết một con lợn sữa, uống cạn hai vò rượu, nhưng khi mai táng thì đau đớn khóc đến nỗi thổ huyết ra ! Kê Khang thì “vượt danh giáo mà buông thả tự nhiên”, “chê Khang, Vũ mà coi thường Chu, Khổng”.
     Đến đời Đường thương nghiệp phát triển, khoa cử mở mang đã tạo điều kiện cho cá tính giải phóng. Lý Bạch là nhà thơ có hoài bão lớn, gặp tiểu nhân gây trắc trở, ông đã tỏ ra khí phách ngông ngạo. Ông đã bắt Dương Quốc Trung mài mực, bắt Cao Lực Sĩ cởi giày, lấy rượu làm phương tiện giải thoát. Ông từng có câu thơ ngạo mạn : “Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch – Chỉ hữu ẩm giả lưu kỳ danh”. Đỗ Phủ làm thơ về Lý Bạch lại có câu : “Thiên tử cho gọi chẳng lên thuyền, thưa, thần nhờ rượu đã thành tiên !”. Truyền thuyết nói “Lý Bạch mặc cẩm bào, chơi ở sông Thái Thạch, ngạo mạn tự đắc, không biết có ai, vì say rượu mà ngã xuống sông, bắt ánh trăng mà chết” đã nói lên cái ngông của ông.
     Đến đời Minh, kinh tế hàng hoá càng phát triển, xã hội phong kiến thối nát, kẻ sĩ cấp tiến càng ý thức về sự ngột ngạt, càng có những biểu hiện ngông cuồng. Lý Trác Ngô (Lý Chất) coi khoa cử như đùa, ông đi thi nhại theo thời văn mà làm bài, thế mà cũng đỗ được cái cử nhân, được làm quan đang có cơ lên chức thì tự bỏ quan. Ông có câu nói khác thường : thuở bé bị thầy và gia đình quản lý, làm quan lại bị quan trên quản lý, về quê lại bị quan sở tại và tổ phụ mẫu quản lý. Ông đành bỏ nhà phiêu bạt là thoát khỏi  cái thân bị cai quản ! Ông bất chấp dư luận nhận sự cung phụng của một bà quả phụ, lại viết thư từ bàn về Phật học với một bà quả phụ khác ! Ông công khai đi theo “dị đoan” là Lão và Phật. Ông nói từ Khổng Tử đến nay, vì lấy thị phi của Khổng Tử làm thị phi, cho nên đã không còn thị phi nữa ! Ông tiếp thụ cái buông thả tự nhiên của Trang Tử, tinh thần “chửi tổ, quát Phật” của đạo Thiền, xô đổ thần tượng, tôn thờ cá tính tự do và cũng hấp thụ cái tiến thủ của đạo Nho. Cuối cùng ông đã mượn dao cạo tự tử.
     Kim Thánh Thán càng là một nhân cách ngông ngạo. Ông tự đặt tên mình là Thánh Thán, là lấy câu Khổng Tử “Thán viết” trong Luận ngữ, ngụ ý mình là Khổng Tử. Ông xem khoa cử như đùa. Trong bài thi, trước câu hỏi của đề bài: “Trước tiền bạc, gái đẹp, kẻ trượng phu có động lòng không”, ông viết liền một mạch 39 chữ “động”, ngụ ý “tứ thập nhi bất hoặc”, đến chữ thứ 40 thì không động nữa, giống như Khổng Tử từng nói. Thánh Thán rất thị tài, tự phụ, tự coi là đại tài, coi đời là một cuộc chơi, ông cho là ở đời nên “tận tính”. Tận tính là thế nào? Nghĩa là trời phú cho ta cái tính thế nào thì thể hiện ra bằng hết, thể hiện trọn vẹn, không che đậy, gò bó. Chọn Ly tao, Trang Tử, thơ Đỗ Phủ, Sử ký, Thuỷ hử, Tây sương ký làm “sáu tài tử thư” và bình theo cách riêng của mình để phát triển ưu phẫn, xưa nay chưa từng có, đặc biệt ông còn dám cắt xén tác phẩm, đổi thay chi tiết cho hợp ý mình, tạo thành tác phẩm “của mình”. Thật là tự do phóng túng. Ông trở thành một hiện tượng lớn, độc đáo của phê bình văn học cổ Trung Quốc. Ông bị chết oan dưới lưỡi đao của quan lại nhà Thanh.
     Các hiện tượng ngông ngạo trong lịch sử văn học Trung Quốc còn nhiều, còn có thể kể đến Từ Vị, Cung Tự Trân và nhiều người khác. Tư tưởng của họ đã khác nhiều với Trang Tử, nhưng họ đều yêu mến Trang Tử, chọn hành động siêu quần, khác tục, cao ngạo, khinh đời, đều đề cao tự do tự tại cho con người cá thể, buông thả tình cảm tự nhiên.
     Các nhà thơ văn Việt Nam từ Nguyễn Trãi đã có yếu tố ngông, nhưng phải bước sang giai đoạn phong kiến suy tàn thì nhân cách ngông mới thực sự biểu hiện nhiều mặt.
     Nhà nghiên cứu Liên Xô trước đây Phêlích Kôn trong công trình Đi tìm cái tôi (1984) có nói : “Bất kể là người trung đại ý thức về chính mình như thế nào, thì anh ta vẫn cảm thấy mình là kẻ phụ thuộc ; phụ thuộc vào ai đó hoặc phụ thuộc vào cái gì đó (gia đình, dòng họ, quan địa  phương, đất đai, công xã, giáo phận). Cảm giác phụ thuộc phú cho anh ta một tính xác định xã hội vững bền, nhưng điều đó cũng trói buộc khả năng cá thể và tầm rộng về thế giới quan của anh ta. Người trung đại cảm thấy mình là người đại diện cho ai khác, chứ không phải là chủ thể sống động. Cuối cùng, đối với người trung đại, bất cứ sự khác biệt và đổi thay nào vượt ra thường quy đều là điều không thể chấp nhận”. Đó là một nhận định có phần tuyệt đối hoá. Nếu cứ như thế thì lấy đâu ra hiện tượng Trang Tử? Nhà nghiên cứu A. Ja. Gurevich hiểu một cách khác: “Trở về thời trung đại chúng ta trước hết cần thấy rằng, chính trong thời đại này, khái niệm cá nhân được hình thành một cách trọn vẹn” (Nxb Giáo dục, Hoàng Ngọc Hiến dich, 1996, tr. 321).
     Những tính cách ngông nêu trên rõ ràng là phá vỡ thường quy, thói tục, giải phóng cá tính, làm suy yếu cảm giác phụ thuộc để đưa con người lên ngôi chủ thể. Cho dù cái ngông về sau đã biến hoá thế nào thì vị tổ đầu tiên khơi dòng định lối chính là Trang Tử.
                                                                      1 – 1999  
                                                          (Đạo gia và văn hoá,
NXB Văn hoá Thông tin, H., 2000)
(nguồn blogger Trần 
Đình Sử)

TÁC PHẨM HOA LÁ CÓ TẠO RA TÁC GIẢ ĐẠI NGÀN?

TÁC PHẨM HOA LÁ CÓ TẠO RA TÁC GIẢ ĐẠI NGÀN?

 Nguyễn Hoàng Đức
 3
Sống ở đời ai chẳng muốn vinh danh tên tuổi mình, như phương ngôn “Cọp chết để da, người chết để tiếng”. Bất hạnh lớn nhất của cuộc đời là “vô dấu vết” hoặc là “không có gì vọng lại” gọi tắt là “vô lại”. Vô lại nghĩa là bóng tối soi vào vật tối đã không hề phản xạ lại, trong khi đó một ánh sáng dù rất nhỏ soi vào vật phản quang đã phản xạ lại. Cái gì soi xuống nước đều có bóng của nó, vậy mà tối tăm bất hạnh nhường bao thứ vật nào vô hình đến mức soi xuống nước chẳng có hình?!
Tiếng hô lớn dội vào vách núi sẽ phản lại âm vọng lớn! Đó là điều tất nhiên. Chúng ta nên chấp nhận nguyên lý giản dị này. Như vậy, cách tự nhiên một tiếng hô nhỏ bé dội vào vách núi sẽ vọng lại một thứ u oa ong ong bé tẹo. Và cũng tất nhiên rằng: Nhìn quả sẽ biết cây. Cây tốt không thể ra trái xấu. Cây còi không thể ra trái to. Nhìn tác phẩm hiển nhiên sẽ phản ánh tầm vóc của tác giả. Tác phẩm lớn thì phải ra đời từ tâm hồn lớn. Còn tác phẩm nhỏ, tép riu thì làm sao chứng tỏ cha đẻ của nó là cá voi?

Họ đều là những nhà thơ
Nghệ thuật tiên quyết phải là sự thể hiện ra ngoài thành tác phẩm. Chỉ khi  đó người ta mới có thể đăng ký phát minh hay sáng tạo. Không có nghệ thuật còn ở trong óc, trong tim hay trong bụng. Triết gia Hegel nói rằng: Tự do là giá trị đầu tiên của con người. Nhưng tự do không thể có nếu không được thể chế ra bằng quyền tự do đầu tiên là tự do sở hữu. Tự do đó nói rẳng tôi ít nhất sở hữu thân thể tôi, rồi nhà tôi, của cải của tôi. Vậy thì không thể cách nào chối từ hay biện hộ, tác phẩm dù to hay bé kia lại không phải sản phẩm của chính tâm hồn mình.
Hình ảnh thường thấy của các nhà thơ đông như kiến ở Việt Nam là gì? Là họ đổ xuống từ vài chiếc xe buýt. Hội nghị nào họ cũng có mặt đông rinh ríc, họ biện hộ “chúng tôi là nhà thơ nhưng chúng tôi yêu lý luận, nên chúng tôi muốn đến hội nghị lý luận”, thật giống người Việt bảo đó là cách “tuần chay nào cũng có nước mắt”, không phải đám cháy, mà đám cỗ nào giấy mời cũng lan sang nhà họ. Một tư duy vé kèm, ăn theo, sau lưng luôn có một đàn long tong như vậy, thử hỏi, hội nghị karaoke họ có bảo, chúng tôi yêu ca hát, hội nghị rau sạch, họ bảo chúng tôi yêu rau, hội nghị thịt họ bảo chúng tôi yêu thịt, hội nghị “giá áo túi cơm” họ bảo chúng tôi cũng yêu, hội nghị đóng bàn ghế thì có thể chúng tôi không cần nhưng hội nghị leo ghế thì chúng tôi không thể nào không dự vì đó là nhu cầu tiến bộ của loài người, còn hội nghị ẵm giải thì họ cũng đòi có mặt vì cho rằng đeo huân chương là bản năng của cán bộ… như vậy thử hỏi có hội nghị nào mà họ có thể vắng mặt?
Dân gian có câu “Việt Nam có Đoàn giỏi mà không giỏi”. Có người bình rằng, trời ơi, người giỏi lấy đâu ra một đoàn như vậy, nhà thơ gì mà đi đâu cũng thấy vài xe buýt đổ xuống, kéo vào ngập hội trường? Còn thơ là nghệ thuật tinh hoa ư, sao cả triệu người làm được, từ cô buôn thúng đến bác nông dân, cả anh xe thồ cũng làm ngon ơ?!
Một lần tôi nghe một nhà thơ cán bộ say sưa ca tụng: Trời ơi, về làng đó mới thấy người ta yêu thơ thế nào, các cụ già kéo ra rưng rưng cảm động, nói rằng “chúng tôi chưa bao giờ được trọng thị đến thế!” Nghe thế tôi buồn quá. Trời ạ, có phương ngôn “tuổi già tương lai đã ở phía sau”. Người Việt nói “già được bát canh, trẻ được manh áo mới”. Già không cần áo mới để mặc cho hôm nay và cả ngày mai, mà chỉ cần ăn bữa nay bữa mai không biết thế nào. Một thứ nghệ thuật phải đi tranh thủ người già, tức nghệ thuật mặt trận cho tổ hưu, thì làm sao còn có tương lai???
Tại sao chỉ có câu lạc bộ thơ phường, thơ khóm, thơ làng mà không có câu lạc bộ viết văn của tỉnh? Có phải vì thơ dễ quá không? Câu trả lời thật đã lộ ra quá rõ ràng: thơ hầu hết chỉ dựa trên cảm xúc được chăng hay chớ nên quá dễ làm. Có một nguyên lý làm thơ phổ biến mà chúng ta vẫn thường nghe nói đó là “tức cảnh sinh tình”. Nghĩa là đi đâu, làm việc gì, sinh hoạt ra sao người ta thấy hưng phấn lên thì liền “nặn chứng cá” ra mấy bài thơ.
Kiến trúc được xem là bộ môn nghệ thuật đầu tiên của nhân loại bởi vì nơi ở là nơi cần thiết đầu tiên của con người. Trong Kinh Thánh, Chúa Trời có nói, một người muốn xây dựng nhà, thì trước hết anh ta phải ngồi xuống tính toán, mình có bao nhiêu tiền, có bao nhiêu nguyên vật liệu, có bao nhiêu công thợ… để rồi quyết định tầm vóc của nhà sẽ thế nào tùy vào những gì mình có thể.
Vậy muốn làm việc gì lớn ở đời, người ta đều phải tính toán, dự liệu và vạch dự án. Đó là việc to! Còn làm thơ, ngẩn ngơ ra ao thấy con cá quẫy, xốn xang một lúc khi bạn tình chưa đến, vu vơ bắt được một mùi hương bất chợt, hoặc thấy mây bay xếp hình ngang trời, rồi lá vàng rụng có vẻ xao xuyến… thế là việc to hay bé? Một việc do cảm xúc tức thì mang lại liệu có là việc lớn được không?
Cái mà quốc gia đông nhất thế giới Trung Quốc có là công trình Vạn Lý Trường Thành vĩ đại cả thế giới biết, bởi vì nó dài và rất dài. Nếu nó dài một mét hay chục mét có lẽ chẳng ai để ý?! Sáng tạo bằng cảm xúc tức thì, cũng có nghĩa là vụn vặt thì chẳng bao giờ có tác phẩm hoành tráng cả. Muốn có tác phẩm lớn nhất dứt khoát người ta phải dùng đến lý trí. Thử nhìn xem, Một con cá sau khi bị gắp hết thịt, nó sẽ trơ ra một cái xương sống gắn liền với cái đầu. Tất cả các động vật có xương sống thì đều vậy. Cái đầu là bộ não của hệ lập trình cũng như kiểm soát và ra lệnh, nó được nối với xương sống là trục dọc của hệ thần kinh, từ đó mới tỏa đi các chi thể. Như vậy cơ thể đó đã nói lên nó là một kiến trúc của lý trí. Những động vật thân mềm không có xương sống thì lạc hậu hơn vì chúng không có cột sống để làm quốc lộ thông tin cho bộ não.
Các nhà thơ vụn là thân mềm hay thân cột sống? Hàng nghìn nhà thơ không thể nghĩ ra cốt truyện cũng như nhân vật cho thơ của mình liệu đó có phải bằng chứng cho việc một cấu trúc chỉ có phần mềm không định hình mà không có nổi sự điều hành trục dọc của hệ thần kinh? Rất nhiều nhà thơ, phớt lờ điều kiện mỗi người chỉ đọc một bài, sau khi đọc xong bài thứ nhất liền bảo “tôi xin đọc ba bài”. Đọc xong cả ba bài ngắn tũn vẫn thòm thèm. Tại sao? Trời ơi, thơ chỉ có cảm xúc, không có thông điệp nên đọc bao nhiêu vẫn cảm thấy mình chưa nói gì?!
Tới đây, tôi sẽ bàn đến tài năng và nhân cách của những người sáng tạo bằng cảm xúc tức thì, không rõ nó có đồng nghĩa với “ma cà chớp” không? Mời các bạn xem. Xin cám ơn!
NHĐ  22/07/2013
(Trích từ Blog Bà Đầm Xòe)