Sunday, July 21, 2013

Ảo huyền Yên Tử cho đời hướng tâm

Ảo huyền Yên Tử cho đời hướng tâm

 TRÂN TRÂN

Yên Tử

(NGUYỄN ANH TUẤN)

Mơ màng nửa tỉnh, nửa say
Mở trời Yên Tử mây bay trắng đầu

Cheo leo dốc dựng vực sâu
Gập ghềnh muôn bậc nhuộm màu thời gian
Gió ru rừng trúc óng vàng
Hoa Hiên chùa cổ đã ngàn năm qua

Với tay vén dải ngân hà
Bừng hương linh tỏa trời hoa rộn ràng
Hàng tùng cổ thụ giăng màn
Phiêu du ta chạm linh sàng nước Nam

Dốc lòng đốt nén tâm nhang
Thỉnh lên cõi Phật cầu an muôn đời
Trong làn sương khói chơi vơi
Ảo huyền Yên Tử cho đời hướng tâm.



Địa danh Yên Tử - cái nôi của thiền phái Trúc Lâm trong tâm thức mỗi người dân đất Việt luôn được coi là linh địa, không những bởi vẻ đẹp cảnh quan hùng vĩ của sơn cùng thủy tận điệp trùng, mà còn là nơi gửi gắm, neo giữ tinh thần bất khuất, sáng tạo của tổ tiên, ông cha trong công cuộc trị nước và giữ nước bốn ngàn năm truyền thống dân tộc Việt Nam chống giặc ngoại xâm. Thơ viết về Yên Tử có nhiều, lịch sử văn học đã kịp ghi khắc công lao thế hệ thi nhân của trào lưu Thơ mới đã thành công trong việc thể hiện những xúc cảm riêng có của thế hệ mình về chốn non thiêng với âm hưởng tâm hồn hào sảng, ngập tràn khí phách của lòng tự hào dân tộc như Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Chế Lan Viên (In trong Gương than - NXB Hải Phòng, 2007)…
Xã hội chuyển mình với những bước đột phá của khoa học công nghệ tri thức, cảm xúc sáng tạo khởi nguồn từ chốn non thiêng không vì thế mà giảm đi trong lớp người cầm bút thế hệ trẻ, thế hệ của những con người sinh ra sau chiến tranh, lấy việc sáng tạo thi ca như một sự thể nghiệm nhu cầu bộc lộ tình cảm bản thể, trái lại đã có không ít người dám mạnh dạn khai thác, tái đề cập đề tài tưởng như đã sáo mòn, xưa cũ về non thiêng Yên Tử. Họ không vì các thế hệ đàn anh đi trước đã miệt mài cày xới và phản ánh rất thành công hình bóng non thiêng trong các tác phẩm thơ mà lu mờ ý chí tìm tòi sáng tạo. Chính đặc điểm này đã phản ánh dấu ấn sắc nét về bước đệm nghệ thuật của các tác giả thế hệ trẻ, thi phẩm của họ thể hiện rõ cá tính sáng tạo khi đề cập tới khía cạnh tâm linh vọng từ Yên Tử non thiêng.
Bài thơ Yên Tử của tác giả trẻ Nguyễn Anh Tuấn in trong tập tuyển Những vần thơ giữa hai thế kỷ, NXB Lao Động phát hành năm 2012 dịp kỷ niệm 60 năm thành lập Ngành Xuất bản. Với không gian tâm linh huyền ảo, giàu chất thơ và tính gợi mở đã đưa người đọc đến ngả rẽ bất ngờ của trường liên tưởng, từ đó chiêm nghiệm, đúc rút ra những bài học thú vị về cuộc sống tâm linh: Mơ màng nửa tỉnh, nửa say/ Mở trời Yên Tử mây bay trắng đầu.
Không gian tâm linh bài thơ được mở ra trong một trạng thái xác định, với đầy đủ chiều kích, hướng nhìn cụ thể, đó là không gian của thực tại hiện tồn với chức năng thông báo một hàm lượng thông tin nhất định về mảnh đất địa linh. Vì sao không gian được mở ra? Cái lý do duy nhất để khẳng định sự mở ra nằm trọn trong góc nhìn nghệ thuật của người nghệ sĩ khi đã cảm được đầy đủ ý nghĩa của sự xuất hiện của bản thể trước thiên nhiên, có nghĩa khi sự cảm hoài về cái ta, yếu tố khẳng định con người sẽ hóa nhỏ nhoi, mờ nhạt, dễ bị tạm khuất chìm trước thiên nhiên hùng vĩ: Cheo leo dốc dựng vực sâu/ Gập ghềnh muôn bậc nhuộm màu thời gian/ Gió ru rừng trúc óng vàng/ Hoa Hiên chùa cổ đã ngàn năm qua.
Bản thể bị thu lại, như một đốm sáng nhỏ nhoi trước đại ngàn thâm trầm huyền bí, linh diệu. Sự bất ngờ lớn nhất mang tính nghệ thuật tạo sức căng văn bản và sự bùng nổ cảm xúc sẽ được đẩy lên cấp độ cao khi yếu tố con người được khẳng định lại như một điểm nhấn duy nhất trong bức tranh thiên nhiên vốn đã hùng tráng: Với tay vén dải ngân hà/ Bừng hương linh tỏa trời hoa rộn ràng/ Hàng tùng cổ thụ giăng màn/ Phiêu du ta chạm linh sàng nước Nam.
Mạch thơ đột ngột chuyển nhanh, như dòng nước đang mang mang chảy, đột ngột đổ vào nhánh nhỏ, chợt chảy xiết cuồn cuộn, cảm xúc thơ theo mạch chảy cũng dâng trào. Sự chuyển mạch thơ đột ngột không hẳn đã nằm ngoài ý đồ nghệ thuật của tác giả, mà nó được chuẩn bị từ rất sớm, thậm chí ngay từ dòng thơ đầu tiên “Mơ màng nửa tỉnh, nửa say” cùng thủ pháp sử dụng một loạt các động từ mạnh, tạo sự kiện đột xuất, dồn dập ở độc lập mỗi câu “Với tay vén; Bừng hương linh tỏa; cổ thụ giăng màn; chạm linh sàng”. Đặc biệt là sự ảo hóa các chi tiết thơ cũng góp phần không nhỏ giúp mạch thơ được đẩy tới cao trào của cảm xúc sáng tạo, khẳng định bản lĩnh cùng nội lực thơ tiềm tàng. Chỉ với bốn câu thơ lại nằm ở vị trí giữa bài, bầu không khí tâm linh - hồn cốt của bài thơ đã được khơi thông, tính tư tưởng của bài thơ đã được khẳng định rốt ráo, chi tiết và cặn kẽ với đầy đủ thiên tính nghệ thuật. Các đặc điểm tâm linh riêng có của vùng đất địa linh nguồn cội được đề cập và làm sáng tỏ bằng sức nặng biểu đạt của nhịp điệu ngôn ngữ thơ nhanh, mạnh mẽ và rất khoát, có phần thăng hoa, nhập thiền trong ngôn ngữ cũng được xác quyết trong trọn vẹn khổ thơ này.
Vượt tới đỉnh cao của cảm xúc sáng tạo, khi bản ngã tưởng như đã hoàn toàn tan biến và hòa đồng vào thiên nhiên kỳ vĩ, vào núi non Yên Tử ngùn ngụt khí linh của sự hướng tâm, hướng thiện, vào bản sắc tâm linh mờ ảo của chốn thiêng liêng ngàn đời, qua giây phút hiếm hoi của trạng thái cận tâm linh, hành giả lại trở về với thế giới thực tại, với bản thể trĩu nặng ưu tư của cuộc sống con người thường nhật: Dốc lòng đốt nén tâm nhang/ Thỉnh lên cõi Phật cầu an muôn đời/ Trong làn sương khói chơi vơi/ Ảo huyền Yên Tử cho đời hướng tâm.
Bài thơ khép lại với không gian thơ đẫm tính hướng nội và đậm chất trữ tình tự sự, là không gian của những chiêm nghiệm, trăn trở, day dứt và thức tỉnh bản ngã. Nhờ vậy tính triết luận của khổ thơ cuối và cả bài thơ cũng được hoàn thiện hơn với tầng tầng cảm xúc. Đặc biệt với cấu trúc của hệ thống các động từ được phân bố trong mỗi câu trong các khổ thơ (mở), (nhuộm, ru), (vén; tỏa; giăng; chạm), (dốc, thỉnh) thành ấn tượng cảm xúc nghệ thuật mạnh mẽ, mang mang âm hưởng tâm linh của tiếng chuông mô phỏng, tạo ra cho bài thơ một nhịp điệu riêng có, mặc trầm tựa hương bay khói tỏa. Nhịp điệu ngân vang của bài thơ chắc chắn sẽ còn được cộng hưởng và ngân nga thêm nhiều cấp độ nữa trong lòng bạn đọc yêu thơ, yêu miền non thiêng Yên Tử với Thiền Viện Trúc Lâm thâm trầm ngàn năm ấp ủ một triết lý sống thuần Việt “nhập thế hành đạo”, mà câu kết bài thơ của Nguyễn Anh Tuấn đã gần chạm tới “Ảo huyền Yên Tử cho đời hướng tâm!”.

BÀI THƠ CỰ NGAO ĐỚI SƠN – MỘT DỰ BÁO CHIẾN LƯỢC THIÊN TÀI CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM

BÀI THƠ CỰ NGAO ĐỚI SƠN – MỘT DỰ BÁO CHIẾN LƯỢC THIÊN TÀI CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM

Posted by basamnews on July 20th, 2013
Nguyễn Khắc Mai
NKM: Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm khi được Chúa Nguyễn Hoàng hỏi kế đã nói: “Hoành Sơn nhất đoái, vạn đại dung thân”, theo đó Nhà Nguyễn đã âm thầm và quyết liệt mở mang đất nước để có một Việt Nam trọn vẹn hình chữ S ngày hôm nay. Với Biển Đông, Cụ Trạng cũng có lời tiên tri, dạy rằng: “Biển Đông vạn dặm dang tay giữ / Đất Việt muôn năm vững trị bình”.

Trong Bạch Vân Am Thi Tập của  Nguyễn Bỉnh Khiêm có bài thơ Cự  Ngao Đới Sơn:
Chữ Hán:          鰲   戴  山
                  碧   浸             
                                     
                                     
                                     
                                     
                                     
                                     
                                     
Phiên âm:    Cự ngao đới sơn
                    Bích tẩm tiên sơn triệt để thanh,
                    Cự ngao đới đắc ngọc hồ sinh.
                    Đáo đầu thạch hữu bổ thiên lực,
                    Trước cước trào vô quyển địa thanh.
                    Vạn lý Đông minh quy bả ác,
                    Ức niên Nam cực điện long bình.
                    Ngã kim dục triển phù nguy lực,
                    Vãn khước quan hà cựu đế thành.
Dịch nghĩa:  Con rùa lớn đội núi
Nước biếc ngâm núi tiên trong tận đáy,
Con rùa lớn đội được bầu ngọc mà sinh ra.
Ngoi đầu lên, đá có sức vá trời,
Bấm chân xuống, sóng cuồn cuộn không dội tiếng vào đất.
 Biển Đông vạn dặm đưa về nắm trong bàn tay,
Muôn  năm cõi Nam đặt vững cảnh trị bình.
Ta nay muốn thi thố sức phù nguy,
Lấy lại quan hà, thành xưa của nhà vua.
Xin mạn dịch thơ như sau: Con rùa lớn đội núi
Núi tiên biển biếc nước trong xanh,
Rùa lớn đội lên non nước thành.
Đầu ngẩng trời dư sức vá đá,
Dầm chân đất sóng vỗ an lành.
Biển Đông vạn dặm dang tay giữ,
 Đất Việt muôn năm vững trị bình.
Chí những phù nguy xin gắng sức,
Cõi bờ xưa cũ tổ tiên mình.
Bài thơ có tuổi đã khoảng 500 năm mà bây giờ  càng đọc càng thấy rất “kim nhật kim thì”, rất thời sự. Ta những tưởng như cụ Trạng Trình đang nói với chính chúng ta hôm nay. Bài thơ nguyên là đễ nói cái chí của cụ ”Chí những phù nguy xin gắng sức” ( Ngã kim dục triển phù nguy lực). Nhưng  lại đọng trong đó một tư tưởng chiến lược một dự báo thiên tài:
“BiểnĐông vạn dặm dang tay giữ, /Đất Việt muôn năm vững trị bình”.
(Vạn lý Đông minh quy bả ác / Ức niên Nam cực điện long  bình.”)
Vào những ngày này Biên Đông đang trở thành một trường tranh chấp, quyết liệt đầy tính bá đạo, đai Hán, đầy mưu mô và hành động vừa gian ác, vừa xảo quyệt của nước lớn Trung Hoa, đang trong cơn hưng phát, thèm khát không gian sinh tồn, muốn bá chiếm biển Đông. Nào vạch đường lưỡi bò, nào xây dựng thành phố Tam Sa được tính toán xây dựng trên vùng chủ quyền của người khác, nào gọi thầu những lô thăm dò ngay trên vùng thuộc chủ quyền của Việt Nam. Nào ngang ngược, tàn bạo cắt cáp, rượt bắt tàu thuyền của ngư dân ta đang làm ăn trên vùng biển của nước mình…
Hai câu thơ đầy tính dự báo chiến lược của Nguyễn Bỉnh Khiêm càng lay động từ đáy sâu của ý chí, của tâm hồn cái tâm thức biển đảo của người Việt. Tự ngàn xưa dân Việt đã là cư dân của văn hóa biển-đảo. Vạn dặm biển Đông phải quay về nắm lấy trong bàn tay. Làm được như vậy, mà phải làm được như vậy – làm chủ được biển Đông, thì muôn đời cõi trời, đất nước Nam này sẽ vững vàng trong cảnh thanh bình thịnh trị lớn lao!.
“Biển Đông vạn dặm dang tay giữ /  Đất Việt muôn năm vững trị bình”.
Đó là lời dự báo thiên tài, là lời truyền dạy của tổ tiên. Nó phải được cảm nhận để hành động trên quy mô của Dân tộc.
Nói quay về giữ trong bàn tay có nghĩa là nói sự làm chủ của mình. Chúng ta sẽ và phải làm chủ biển Đông. Tất nhiên không  thể và không phải với một thứ phản văn hóa, nghĩa là cũng muốn làm chủ với tư tưởng bá quyền, độc chiếm. Tinh thần làm chủ của chúng ta là vừa biết kiên quyết bảo vệ chủ quyền hợp pháp của mình, kiên quyết chống lại sự xâm lăng nước lớn. Mà cũng biết tôn trọng chủ quyền hợp pháp của các nước lân bang Đông Nam Á.
Làm chủ Biển Đông, mà tổ tiên đã truyền dặn, ngày nay phải thể hiện cả ba mặt. Thứ nhất là làm chủ những vấn đề về lịch sử, pháp lý, cả những gì liên quan đến sức mạnh vật chất, tinh thần, để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Thứ hai là phải xây dựng một nền kinh tế biển hoàn chỉnh hữu hiệu. Thứ ba là phát triển khoa học và văn hóa biển. Cả ba lĩnh vực trên là ba khâu liên hoàn, làm tiền đề, nhân quả lẫn nhau. Bảo vệ chủ quyền để phát triển kinh tế biển. Muốn phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền hữu hiệu lại phải coi trọng xây dựng các ngành khoa học biển và văn hóa biển. Đó chính là một năng lực mới của Dân tộc để xây dựng và bảo vệ Đất nước.
Điều đáng mừng là  Nhà nước ta cũng đã có phác thảo trên những nét chính về một chiến lược biển Đông với 9 giải pháp lớn như sau:
1. Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của biển đảo đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
2. Xây dựng lực lượng mạnh nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh biển đảo,
3. Đẩy mạnh điếu tra cơ bản và phát triểnkhoa học-công nghệ biển.
4. Triển khai quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội đảm bảo quốc phòng, an ninh.
5. Quản lý nhà nước có hiệu quả hiệu lực đối với các vấn đề liên quan đến biển.
6. Xây dựng đầy đủ, đồng bộ hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư phát triển.
7. Phát triển nguồn nhân lực biển đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội vùng biển đảo và ven biển.
8. Tăng cường công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế về biển.
9. Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh (đi đôi với tạo điều kiện đễ nhân dân than gia giữ chủ quyền, làm kinh tế và xây dựng khoa học, văn hóa biển.)
Đọc lại bài thơ Cự ngao đới sơn với hai câu dự báo chiến lược thiên tài, chúng ta càng khâm phục cụ Trạng Trinh Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bao đời, nhân dân gọi Cụ như vậy vì Cụ sống vào thời Lê-Mạc (1491-1585). Cụ đỗ Trạng nguyên, được phong tước Trình Tuyền hầu. Cụ đã đễ lại một di sản văn hóa đồ sộ, với cả ngàn bài thơ văn với những giá trị nhân văn, đầy chất triết lý, đầy tình yêu nước, thương dân, là một kho Minh triết của muôn đời. Cụ còn là nhà dự báo, tiên tri. Câu “Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân” là lời dự báo không chỉ cho Nguyễn Hoàng, cho Đàng trong mà là cả cho Việt Nam. Về hai chữ Việt Nam, chính Cụ là người đầu tiên dùng để chỉ tên Đất nước, rồi được vua Gia Long dùng làm tên nước chính thức cho đến tận hôm nay.
Câu thơ cuối bài của cụ “Ta nay cũng muốn đem sức phò nguy” chính là nói về chúng ta trong những nhiệm vụ làm chủ biển Đông hôm nay vậy./.