BẾ MẸ
Tuổi thơ mẹ bế hỉ hoan
Mẹ kiệt, bế mẹ mắt tràn nhói tim
Bao ngày mẹ lịm nằm im
Tay run thìa cháo tìm môi mẹ cười
Bế nâng tắm rửa cho người
Những giây phút ấy rã rời ruột gan
Quặn lòng bế mẹ nhập quan
Mẹ an nghỉ dưới ngút ngàn nhớ
thương.
Hành trình của chữ hiếu
Trong bài thơ Bế Mẹ của
Nguyễn Quang Phi
Trong cuộc đời
một con người, tình cảm và các mối quan hệ gia đình là yếu tố không thể thiếu,
góp phần quan trọng định hình nên giá trị của nhân cách sống và phong cách ứng
xử với xã hội. Đan cài trong các mối quan hệ được giới hạn tại phạm vi tình cảm
gia đình truyền thống và phi truyền thống, thì phạm trù của đức hiếu rất rộng
lớn, nó định hình và phổ quát mọi hành vi, thái độ ứng xử, giao tiếp giữa mỗi
thế hệ, được quy định bởi tính huyết thống theo một tôn ti, trật tự được duy
trì bởi sự công nhận của truyền thống luân lý xã hội, và hệ thống luật pháp
đương thời.
Triết lý nhà
phật khẳng định: “Nhân sinh bách hạnh
hiếu vi tiên”, trong trăm hạnh của con người, hạnh Hiếu đứng đầu với năm
điều khuyến nghị mỗi cá nhân con người trong cộng đồng nên hướng tâm
theo: Phụng dưỡng cha mẹ bằng phương tiện vật chất và hướng dẫn người trên
bước đường tinh thần; Làm những công việc nặng nhọc thay cha mẹ; Giữ gìn gia
phong; Chi dụng gia sản của cha mẹ một cách hợp lý; Hồi hướng công đức cho cha
mẹ khi người đã lìa đời. Triết luận tư tưởng Nho gia từng có ảnh hưởng tới văn
hóa truyền thống Việt Nam từ hàng ngàn năm cũng luôn đề cao tính hiếu, và coi
đó là một trong những mục đích thiết yếu trên con đường tu thân của mỗi đấng
quân tử. Từ thời Xuân Thu, Khổng Tử đã soạn sách Hiếu Kinh bàn về chữ hiếu: Cha sinh ra ta, mẹ nuôi nấng ta, thương lắm
cha mẹ khó nhọc vì ta. Ân nghĩa sâu xa, trời cao khôn sánh.
Ở bài thơ Bế
mẹ, triết luận về tính hiếu được đẩy cao, thành tư tưởng nghệ thuật chủ đạo,
nâng tứ thơ bay lên vấn vít giữa tầng tầng ngôn nghĩa, tập trung soi chiếu, làm
ngời sáng mỗi trạng thái hành động của các nhân vật thơ:
Tuổi thơ mẹ
bế hỉ hoan
Mẹ kiệt, bế
mẹ mắt tràn nhói tim.
Ngay
hai câu thơ mào đầu, một mẫu tâm trạng thơ đã được kiến thiết, xây dựng như nền
tảng của một cấu trúc tư tưởng thơ, thiên về tính hiếu với đầy đủ các rường mối
vững chắc là quan hệ huyết thống gia đình, mẹ và con. Hai câu thơ là với hai
trạng thái tình cảm trái ngược (ấu thơ vui mừng được mẹ bế, khi trưởng thành tự
cảm thấy xót thương khi giúp đỡ mẹ già yếu, sức cùng lực kiệt), và hai hành
động thơ cũng trái ngược nhau (mẹ bế - bế mẹ), nhưng lại là những nhân tố thiết
yếu giúp tâm trạng thơ khai mở với những nút thắt kịch tính đầu tiên xuất hiện
như một dự báo với mức độ truyền cảm cao nhất, thực sự ám ảnh.
Tâm thức người
xưa (và cả ngày nay) vẫn bị chi phối bởi định kiến "Bất hiếu hữu tam, vô
hậu vi đại" (có 3 điều bất hiếu với cha mẹ, trong đó không có con là
điều nặng nhất), như là một định chế dòng tộc, một thiết chế của tính huyết
thống. Nhưng ở thơ Nguyễn Quang Phi, hiếu tính đã được cảm nhận theo cách tiếp cận
mở rộng hơn, khoáng đạt hơn, với quan niệm giản đơn, cởi mở, thiên về ý thức tự
nguyện, và đề cao yếu tố chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ
như một nghĩa cử của con người, rất nhân bản.
Bao ngày mẹ
lịm nằm im
Tay run thìa cháo tìm môi mẹ cười
Chỉ
một nét cười của mẹ cũng khiến tâm hồn con cái thư thái, thỏa thuê khao khát
sau bao tháng ngày chăm sóc, muôn phần vất vả nhọc nhằn. Nét cười của mẹ, xét
về mặt sinh học trong bối cảnh thơ, là biểu hiện của một dạng sự sống, của hoạt
động sống của cơ thể con người sinh vật thoát khỏi tình trạng tê liệt lâm sàng,
tìm môi mẹ cười trong ngữ cảnh này, ngoài
tác dụng thông báo, đưa đến người đọc một lượng thông tin cụ thể, nhằm giải
thích cho hành động “bế mẹ” ở hai câu thơ mở đầu, còn có tác dụng dự báo cho
những tình huống phát triển của cốt truyện sau này như một xác quyết cho tính
nghệ thuật. Xét trong khía cạnh văn bản thơ, thì nét cười ấy không những chỉ
của riêng mẹ mà còn là của cả miền tiềm thức ấu thơ, thường trực nơi tâm hồn người
con hiếu đạo đang mong mỏi tìm lại mỗi khi được ở bên mẹ. Đó cũng là nụ cười
tâm linh mãn nguyện khai sáng cho tâm tưởng con khi chăm bẵm nâng giấc mẹ, khi “tay run thìa cháo”…
Mẹ là nhân tố cơ
bản kiến trúc nên gia đình, là thành viên trực tiếp lo toan gánh vác và trách
nhiệm kế thừa gìn giữ phát huy truyền thống, gia phong, gia đạo của dòng tộc,
đồng thời cũng là tấm gương cho con cái noi gương học tập hoàn thiện nhân cách
và điều chỉnh mọi hành vi ứng xử trong các mối quan hệ xã hội. Vai trò người mẹ
trong gia đình là hướng nội, luôn chú trọng dành tình cảm tốt đẹp nhất cho con
cháu mình, truyền thống ấy gần như là bất biến, và xã hội cũng đòi hỏi những
người làm con, làm cháu phải cư xử tốt đối với cha mẹ theo truyền thống “trọng
già, già để tuổi cho”. Cái tư xử tốt ấy đã là một biểu hiện, một trạng thái
biểu hiện của hiếu tính, được Nguyễn Quang Phi hành động hóa bằng các chi tiết
hình ảnh thơ:
Bế nâng tắm
rửa cho người
Những giây
phút ấy rã rời ruột gan.
Trạng thái “rã
rời ruột gan” ở ngữ cảnh thơ thật đặc biệt, đặc biệt bởi trạng thái này chỉ
xuất hiện trong tâm trạng những người con hiếu thảo khi chăm sóc cho cha mẹ
mình, cái cảm giác tay đứt ruột xót của tình huyết thống, của máu thịt đã được
di truyền lại, trỗi dậy, mới gây được những hiệu ứng cảm xúc cao cấp ấy, cảm
xúc của riêng trái tim con người, của xúc cảm từ giọt máu có khởi nguồn từ cơ
thể mẹ khi chứng kiến cội nguồn sinh dưỡng đang dần cạn kiệt, nó bao hàm sự bất
lực trước thực tế cuộc sống sinh vật đầy phũ phàng trước vũ trụ bao la, sự cam
chịu bị chi phối khắc nghiệt từ quy luật cuộc sống, sự khao khát hoán cải thời
gian… Sẽ là sự lừa dối xúc cảm nếu người viết không từng trải qua, hay chỉ là sự
ghi chép lại thứ cảm xúc xuất phát từ lòng thương hại giữa người với người, khi
thay nhân vật mẹ bằng bất kỳ một người già, yếu cô đơn nào đó, chắc hẳn cái sự rã rời ruột gan, trong trường hợp giả
định này chỉ là những mỹ từ trang trí cho những câu khẩu hiệu vô hồn, nhàm
chán, giống như điệp trùng các bảng biển quảng cáo, các chùm khẩu hiệu vẫn mắc
giăng đầy rẫy giữa cuộc sống thường nhật. Ở bài thơ “Bế mẹ”, những câu thơ của
Nguyễn Quang Phi thực sự tỏa sáng, đã kịp ghi vào lòng người, tự nhiên như hơi
thở, như dòng nước trong lành làm dịu mát cái gốc “cây đức” trước nguy cơ mỗi
ngày bị tha hóa cằn cỗi trong lòng chúng ta, không dễ gì phủ nhận. Cái ranh
giới giữa thực và dối trong xúc cảm sáng tạo nơi Nguyễn Quang Phi được sáng tỏ không
phải nhờ cái sự “duy cảm” thuần mỹ, mà đến từ tính dự báo dã được cài gút nơi
văn bản. Và cao hơn nữa là nhờ vào tính hiếu vẫn tiềm ẩn nơi tâm hồn người đọc
như một tiếp nhận mã hóa được cài sẵn, chực chờ dịp sẽ bung òa.
Bài thơ như một
cuộc trình diễn các trạng thái tình cảm, các hình ảnh gợi nhắc nỗi đau, niềm
vui của người con trong mối quan hệ gia đình giữa người con và người mẹ. Hành
trình cảm xúc này bắt đầu từ niềm vui của tuổi ấu thơ (hỉ hoan), rồi đến các
trạng thái tinh thần mô tả nỗi đau với cấp độ tăng dần về xúc cảm (nhói tim,
tay run, rã rời ruột gan, quặn lòng) theo thời gian, đồng thời là một hành
trình thú vị về tính hiếu nơi nhân vật con định hình phái lộ. Cái đặc sắc của
bài thơ là các trạng thái tinh thần đặc biệt đều gắn chặt, và xoay quanh hành
động “bế” như một triết luận về ngôn ngữ của cử chỉ, hành động.
Quặn lòng bế mẹ nhập quan
Mẹ an nghỉ dưới ngút ngàn nhớ thương.
Chia
tay đưa tiễn mẹ về cõi vĩnh hằng, với nỗi đau cắt ruột, được nâng bế hình hài
của mẹ trên tay lần cuối cùng trong đời, rồi vĩnh viễn không bao giờ còn cơ
hội, liệu có diễn ngôn nào tả xiết tâm trạng người con khi ấy? Những câu thơ
cũng vậy thôi, sau hình hài những ký tự ngôn ngữ, phải là những dư âm vang vọng
tiếp dài, phải là những thiết lập rung động ngoài văn bản giữa lý trí với lý
trí, giữa trái tim với trái tim. Mối thiết lập xúc cảm ấy được Nguyễn Quang Phi
hội tụ lại trong hình ảnh “Mẹ an nghỉ dưới ngút ngàn nhớ thương”, như một giải
pháp tình thế của hiếu tính trước cơn bão tâm trạng đau đớn mất mát, cần được
xoa dịu, hàn gắn tức thời.
Bài
thơ vẻn vẹn với 4 cặp câu, cô đọng đến từng chi tiết, không tránh khỏi những
hạn chế, nhất là khi xét về cấu trúc của xúc cảm trong tổng thể của cấu trúc
nghệ thuật là bài thơ, sự bất cân xứng xúc cảm thơ giữa các trạng thái tâm
trạng vui và buồn, (niềm vui chỉ được đưa ra duy nhất ở dòng thơ mở đầu như một
đối sánh, một hệ quy chiếu cần và đủ), cách lựa chọn ngôn ngữ mô phỏng cho mỗi
trạng thái ngôn ngữ chưa thật tinh tế (cái đau nhất trong cuộc đời mỗi con
người ấy là khi phải vĩnh viễn chia tay người thân yêu của mình và tiễn đưa họ
về cõi giới bên kia), để lột tả trạng thái tinh thần này, không tinh tế sẽ dẫn
đến hệ quả, sức cảm của bài thơ yếu đi vì sự dễ dãi của người sử dụng ngôn từ.
Hãy xét trong tập hợp các động từ mà tác giả đã sử dụng đắc địa trước đó (nhói
tim, tay run, rã rời ruột gan, quặn lòng), nếu đem so sánh, thì rõ ràng “nhớ
thương”, chỉ có ý nghĩa an ủi động viên phần tâm linh, chứ chưa đủ để gợi về
nỗi đớn đau trực tiếp xảy ra trong tâm trạng người con khi ấy, xúc cảm nghệ
thuật rõ ràng đi vào chỗ bế tắc, hoặc cần thêm rất nhiều những lời bình chú,
giải thích.
Vượt
qua tất cả những hạn chế vừa nêu, người đọc không dễ phủ nhận phần hiếu tính
hiển hiện qua tứ thơ nhẹ nhàng mà rõ ràng, sâu đậm, có tác dụng xuyên suốt các
phân mảnh xúc cảm, các trạng thái tình cảm, giúp bài thơ có một vị trí nhất
định trong lòng bạn yêu thơ, đó cũng là thành công không nhỏ của người làm thơ
trên hành trình tiếp cận bạn đọc của mình. Người đọc cũng có quyền hy vọng trong
tương lai, nhà thơ Nguyễn Quang Phi sẽ còn góp thêm cho đời nhiều bài thơ hay
hơn nữa về mảng đề tài hiếu đạo này.


