Thursday, February 18, 2016

215 BÀI HÁT RU CHO CON CHÁU TRƯỞNG THÀNH - CỦA NGUYỄN QUANG PHI (sách do Diễn đàn Văn chương & Cuộc sống liên kết xuất bản)







BẾ MẸ

Tuổi thơ mẹ bế hỉ hoan
Mẹ kiệt, bế mẹ mắt tràn nhói tim

Bao ngày mẹ lịm nằm im
Tay run thìa cháo tìm môi mẹ cười

Bế nâng tắm rửa cho người
Những giây phút ấy rã rời ruột gan

Quặn lòng bế mẹ nhập quan
Mẹ an nghỉ dưới ngút ngàn nhớ thương.


Hành trình của chữ hiếu
Trong bài thơ Bế Mẹ của Nguyễn Quang Phi

Trong cuộc đời một con người, tình cảm và các mối quan hệ gia đình là yếu tố không thể thiếu, góp phần quan trọng định hình nên giá trị của nhân cách sống và phong cách ứng xử với xã hội. Đan cài trong các mối quan hệ được giới hạn tại phạm vi tình cảm gia đình truyền thống và phi truyền thống, thì phạm trù của đức hiếu rất rộng lớn, nó định hình và phổ quát mọi hành vi, thái độ ứng xử, giao tiếp giữa mỗi thế hệ, được quy định bởi tính huyết thống theo một tôn ti, trật tự được duy trì bởi sự công nhận của truyền thống luân lý xã hội, và hệ thống luật pháp đương thời.
Triết lý nhà phật khẳng định: “Nhân sinh bách hạnh hiếu vi tiên”, trong trăm hạnh của con người, hạnh Hiếu đứng đầu với năm điều khuyến nghị mỗi cá nhân con người trong cộng đồng nên hướng tâm theo: Phụng dưỡng cha mẹ bằng phương tiện vật chất và hướng dẫn người trên bước đường tinh thần; Làm những công việc nặng nhọc thay cha mẹ; Giữ gìn gia phong; Chi dụng gia sản của cha mẹ một cách hợp lý; Hồi hướng công đức cho cha mẹ khi người đã lìa đời. Triết luận tư tưởng Nho gia từng có ảnh hưởng tới văn hóa truyền thống Việt Nam từ hàng ngàn năm cũng luôn đề cao tính hiếu, và coi đó là một trong những mục đích thiết yếu trên con đường tu thân của mỗi đấng quân tử. Từ thời Xuân Thu, Khổng Tử đã soạn sách Hiếu Kinh bàn về chữ hiếu: Cha sinh ra ta, mẹ nuôi nấng ta, thương lắm cha mẹ khó nhọc vì ta. Ân nghĩa sâu xa, trời cao khôn sánh.
Ở bài thơ Bế mẹ, triết luận về tính hiếu được đẩy cao, thành tư tưởng nghệ thuật chủ đạo, nâng tứ thơ bay lên vấn vít giữa tầng tầng ngôn nghĩa, tập trung soi chiếu, làm ngời sáng mỗi trạng thái hành động của các nhân vật thơ:
Tuổi thơ mẹ bế hỉ hoan
Mẹ kiệt, bế mẹ mắt tràn nhói tim.
            Ngay hai câu thơ mào đầu, một mẫu tâm trạng thơ đã được kiến thiết, xây dựng như nền tảng của một cấu trúc tư tưởng thơ, thiên về tính hiếu với đầy đủ các rường mối vững chắc là quan hệ huyết thống gia đình, mẹ và con. Hai câu thơ là với hai trạng thái tình cảm trái ngược (ấu thơ vui mừng được mẹ bế, khi trưởng thành tự cảm thấy xót thương khi giúp đỡ mẹ già yếu, sức cùng lực kiệt), và hai hành động thơ cũng trái ngược nhau (mẹ bế - bế mẹ), nhưng lại là những nhân tố thiết yếu giúp tâm trạng thơ khai mở với những nút thắt kịch tính đầu tiên xuất hiện như một dự báo với mức độ truyền cảm cao nhất, thực sự ám ảnh. 
Tâm thức người xưa (và cả ngày nay) vẫn bị chi phối bởi định kiến "Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại" (có 3 điều bất hiếu với cha mẹ, trong đó không có con là điều nặng nhất), như là một định chế dòng tộc, một thiết chế của tính huyết thống. Nhưng ở thơ Nguyễn Quang Phi, hiếu tính đã được cảm nhận theo cách tiếp cận mở rộng hơn, khoáng đạt hơn, với quan niệm giản đơn, cởi mở, thiên về ý thức tự nguyện, và đề cao yếu tố chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ như một nghĩa cử của con người, rất nhân bản.  
Bao ngày mẹ lịm nằm im
Tay run thìa cháo tìm môi mẹ cười
            Chỉ một nét cười của mẹ cũng khiến tâm hồn con cái thư thái, thỏa thuê khao khát sau bao tháng ngày chăm sóc, muôn phần vất vả nhọc nhằn. Nét cười của mẹ, xét về mặt sinh học trong bối cảnh thơ, là biểu hiện của một dạng sự sống, của hoạt động sống của cơ thể con người sinh vật thoát khỏi tình trạng tê liệt lâm sàng, tìm môi mẹ cười trong ngữ cảnh này, ngoài tác dụng thông báo, đưa đến người đọc một lượng thông tin cụ thể, nhằm giải thích cho hành động “bế mẹ” ở hai câu thơ mở đầu, còn có tác dụng dự báo cho những tình huống phát triển của cốt truyện sau này như một xác quyết cho tính nghệ thuật. Xét trong khía cạnh văn bản thơ, thì nét cười ấy không những chỉ của riêng mẹ mà còn là của cả miền tiềm thức ấu thơ, thường trực nơi tâm hồn người con hiếu đạo đang mong mỏi tìm lại mỗi khi được ở bên mẹ. Đó cũng là nụ cười tâm linh mãn nguyện khai sáng cho tâm tưởng con khi chăm bẵm nâng giấc mẹ, khi “tay run thìa cháo”…
Mẹ là nhân tố cơ bản kiến trúc nên gia đình, là thành viên trực tiếp lo toan gánh vác và trách nhiệm kế thừa gìn giữ phát huy truyền thống, gia phong, gia đạo của dòng tộc, đồng thời cũng là tấm gương cho con cái noi gương học tập hoàn thiện nhân cách và điều chỉnh mọi hành vi ứng xử trong các mối quan hệ xã hội. Vai trò người mẹ trong gia đình là hướng nội, luôn chú trọng dành tình cảm tốt đẹp nhất cho con cháu mình, truyền thống ấy gần như là bất biến, và xã hội cũng đòi hỏi những người làm con, làm cháu phải cư xử tốt đối với cha mẹ theo truyền thống “trọng già, già để tuổi cho”. Cái tư xử tốt ấy đã là một biểu hiện, một trạng thái biểu hiện của hiếu tính, được Nguyễn Quang Phi hành động hóa bằng các chi tiết hình ảnh thơ:      
Bế nâng tắm rửa cho người
Những giây phút ấy rã rời ruột gan.
Trạng thái “rã rời ruột gan” ở ngữ cảnh thơ thật đặc biệt, đặc biệt bởi trạng thái này chỉ xuất hiện trong tâm trạng những người con hiếu thảo khi chăm sóc cho cha mẹ mình, cái cảm giác tay đứt ruột xót của tình huyết thống, của máu thịt đã được di truyền lại, trỗi dậy, mới gây được những hiệu ứng cảm xúc cao cấp ấy, cảm xúc của riêng trái tim con người, của xúc cảm từ giọt máu có khởi nguồn từ cơ thể mẹ khi chứng kiến cội nguồn sinh dưỡng đang dần cạn kiệt, nó bao hàm sự bất lực trước thực tế cuộc sống sinh vật đầy phũ phàng trước vũ trụ bao la, sự cam chịu bị chi phối khắc nghiệt từ quy luật cuộc sống, sự khao khát hoán cải thời gian… Sẽ là sự lừa dối xúc cảm nếu người viết không từng trải qua, hay chỉ là sự ghi chép lại thứ cảm xúc xuất phát từ lòng thương hại giữa người với người, khi thay nhân vật mẹ bằng bất kỳ một người già, yếu cô đơn nào đó, chắc hẳn cái sự rã rời ruột gan, trong trường hợp giả định này chỉ là những mỹ từ trang trí cho những câu khẩu hiệu vô hồn, nhàm chán, giống như điệp trùng các bảng biển quảng cáo, các chùm khẩu hiệu vẫn mắc giăng đầy rẫy giữa cuộc sống thường nhật. Ở bài thơ “Bế mẹ”, những câu thơ của Nguyễn Quang Phi thực sự tỏa sáng, đã kịp ghi vào lòng người, tự nhiên như hơi thở, như dòng nước trong lành làm dịu mát cái gốc “cây đức” trước nguy cơ mỗi ngày bị tha hóa cằn cỗi trong lòng chúng ta, không dễ gì phủ nhận. Cái ranh giới giữa thực và dối trong xúc cảm sáng tạo nơi Nguyễn Quang Phi được sáng tỏ không phải nhờ cái sự “duy cảm” thuần mỹ, mà đến từ tính dự báo dã được cài gút nơi văn bản. Và cao hơn nữa là nhờ vào tính hiếu vẫn tiềm ẩn nơi tâm hồn người đọc như một tiếp nhận mã hóa được cài sẵn, chực chờ dịp sẽ bung òa. 
Bài thơ như một cuộc trình diễn các trạng thái tình cảm, các hình ảnh gợi nhắc nỗi đau, niềm vui của người con trong mối quan hệ gia đình giữa người con và người mẹ. Hành trình cảm xúc này bắt đầu từ niềm vui của tuổi ấu thơ (hỉ hoan), rồi đến các trạng thái tinh thần mô tả nỗi đau với cấp độ tăng dần về xúc cảm (nhói tim, tay run, rã rời ruột gan, quặn lòng) theo thời gian, đồng thời là một hành trình thú vị về tính hiếu nơi nhân vật con định hình phái lộ. Cái đặc sắc của bài thơ là các trạng thái tinh thần đặc biệt đều gắn chặt, và xoay quanh hành động “bế” như một triết luận về ngôn ngữ của cử chỉ, hành động.
Quặn lòng bế mẹ nhập quan
   Mẹ an nghỉ dưới ngút ngàn nhớ thương.
            Chia tay đưa tiễn mẹ về cõi vĩnh hằng, với nỗi đau cắt ruột, được nâng bế hình hài của mẹ trên tay lần cuối cùng trong đời, rồi vĩnh viễn không bao giờ còn cơ hội, liệu có diễn ngôn nào tả xiết tâm trạng người con khi ấy? Những câu thơ cũng vậy thôi, sau hình hài những ký tự ngôn ngữ, phải là những dư âm vang vọng tiếp dài, phải là những thiết lập rung động ngoài văn bản giữa lý trí với lý trí, giữa trái tim với trái tim. Mối thiết lập xúc cảm ấy được Nguyễn Quang Phi hội tụ lại trong hình ảnh “Mẹ an nghỉ dưới ngút ngàn nhớ thương”, như một giải pháp tình thế của hiếu tính trước cơn bão tâm trạng đau đớn mất mát, cần được xoa dịu, hàn gắn tức thời.
            Bài thơ vẻn vẹn với 4 cặp câu, cô đọng đến từng chi tiết, không tránh khỏi những hạn chế, nhất là khi xét về cấu trúc của xúc cảm trong tổng thể của cấu trúc nghệ thuật là bài thơ, sự bất cân xứng xúc cảm thơ giữa các trạng thái tâm trạng vui và buồn, (niềm vui chỉ được đưa ra duy nhất ở dòng thơ mở đầu như một đối sánh, một hệ quy chiếu cần và đủ), cách lựa chọn ngôn ngữ mô phỏng cho mỗi trạng thái ngôn ngữ chưa thật tinh tế (cái đau nhất trong cuộc đời mỗi con người ấy là khi phải vĩnh viễn chia tay người thân yêu của mình và tiễn đưa họ về cõi giới bên kia), để lột tả trạng thái tinh thần này, không tinh tế sẽ dẫn đến hệ quả, sức cảm của bài thơ yếu đi vì sự dễ dãi của người sử dụng ngôn từ. Hãy xét trong tập hợp các động từ mà tác giả đã sử dụng đắc địa trước đó (nhói tim, tay run, rã rời ruột gan, quặn lòng), nếu đem so sánh, thì rõ ràng “nhớ thương”, chỉ có ý nghĩa an ủi động viên phần tâm linh, chứ chưa đủ để gợi về nỗi đớn đau trực tiếp xảy ra trong tâm trạng người con khi ấy, xúc cảm nghệ thuật rõ ràng đi vào chỗ bế tắc, hoặc cần thêm rất nhiều những lời bình chú, giải thích.
            Vượt qua tất cả những hạn chế vừa nêu, người đọc không dễ phủ nhận phần hiếu tính hiển hiện qua tứ thơ nhẹ nhàng mà rõ ràng, sâu đậm, có tác dụng xuyên suốt các phân mảnh xúc cảm, các trạng thái tình cảm, giúp bài thơ có một vị trí nhất định trong lòng bạn yêu thơ, đó cũng là thành công không nhỏ của người làm thơ trên hành trình tiếp cận bạn đọc của mình. Người đọc cũng có quyền hy vọng trong tương lai, nhà thơ Nguyễn Quang Phi sẽ còn góp thêm cho đời nhiều bài thơ hay hơn nữa về mảng đề tài hiếu đạo này.

"MỘT NGÀY THU" - tập thơ của VŨ VIẾT TIẾN, NXB LAO ĐỘNG, 2015) sách do DIỄN ĐÀN VĂN CHƯƠNG & CUỘC SỐNG in ấn và xuất bản






LỜI GIỚI THIỆU

Người lính đi qua cuộc chiến trở về đời thường, trở về với quê hương, nơi gắn bó trọn ấu thơ, cũng tựa như hạt mầm được gieo vào lòng đất mẹ, chờ đợi mùa đơm bông kết trái trĩu ngọt tình người.
Tập thơ “Một ngày thu” - Nhà xuất bản Lao Động, 2015 của tác giả Vũ Viết Tiến - người từng khoác trên mình bộ quân phục của người lính trận năm xưa, và cũng từng trăn trở với bộn bề công việc mưu sinh nơi hậu phương sau khi xuất ngũ, hầu mong đóng góp công sức vào công cuộc chung tái thiết và xây dựng đất nước sau chiến tranh như đồng đội, như thế hệ tuổi trẻ của ông đã tâm nguyện. Bằng năng lực của mình, ông đã miệt mài lao động không ngơi nghỉ trên những trang viết, lắng lọc, gọt dũa, trau chuốt từng lời, từng ý từ vốn kinh nghiệm sống, chiến đấu, lao động và học tập của mình, của thế hệ mình ký thác vào ngòi bút như một món quà tinh thần hữu ích dành cho đời, cho người tri kỷ tâm giao. Với bầu bạn, đồng đội quý mến ông, thì mỗi trang thơ sẽ là một chùm quả ngọt của hy sinh dâng hiến, của cõi giới tâm hồn đau đáu hướng về chân, thiện, mỹ, về sự nhân ái trường tồn nơi trái tim mỗi người.
Sự kỳ vọng của bầu bạn tri âm với thơ của ông, hoàn toàn có cơ sở, bởi phẩm chất của những người lính như ông từng trải qua chiến trận, đối mặt với sự sống và cái chết trong tấc gang vì danh dự Tổ quốc, vì sự bình yên của hậu phương yêu dấu, không ngại hy sinh tuổi trẻ, xương máu nơi sa trường, thì ở bất kỳ hoàn cảnh nào, bản lĩnh của họ cũng luôn tỏa sáng, và đó là nhân tố không thể thiếu để xây dựng nên nhân cách và chân dung người lính trong mỗi trang thơ của Vũ Viết Tiến hôm nay.
Hy vọng bạn đọc sẽ tìm thấy sự đồng điệu của mình qua mỗi trang thơ!
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!






NHỚ QUỲNH LÂM


Nhớ ngày về hội Quỳnh Lâm
Mưa phùn gió lạnh tôi cầm tay em
Chiều buông chùa đã lên đèn
Thỉnh lời cầu nguyện người chen dòng người.

Ba mươi xuân lẻ em ơi
Tình đầu vẫn thắm nét đời thủy chung
Ngày ấy vãn hội Quỳnh Lâm
Xa rồi thổn thức lặng thầm đêm thâu.

Nhớ em cô gái sông Cầu
Anh nơi biển bạc xanh màu bốn phương
Thái Bình – Kinh Bắc yêu thương
Mong sao chung một con đường quê hương.

Niềm yêu lòng dạ tơ vương
Câu thơ xưa cổ vô thường se duyên
Quỳnh Lâm khánh đá chuông đồng
Ta đi lên vợ lên chồng đấy thôi.

Quỳnh Lâm hai tiếng bồi hồi
Mai sau còn mãi hát lời ru êm.

........................
Chùa Quỳnh Lâm là ngôi chùa cổ đời nhà Trần thuộc huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh.






NÚI SẠN

Em đưa tôi về núi Sạn
Chiều đông còn chút nắng vàng
Con đường bê tông rộng mở
Chạy dài hun hút thung sâu.

Em bảo ngày xưa núi Sạn
Một vùng sỏi đá lô nhô
Ai qua Việt Dân chẳng nhớ
Quê mình miền đất hoang sơ.

Nơi đây đất cằn sỏi đá
Màu xanh đã phủ khắp đồi
Núi Sạn chiều nay tôi đến
Ngỡ ngàng kỳ tích thần tiên.

Rừng vải, rừng na hoa trái
Tiếng chim ríu rít gọi bầy
Đã qua tháng ngày gian khó
Bao mồ hôi thấm đất này.

Sỏi đá cũng thành sắn gạo
Câu thơ chân lý con người
Núi Sạn quê em xứ sở
Bức tranh ngày mới đẹp tươi.


 .............................
Núi Sạn ở xã Việt Dân, huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh.





 GIA TÀI ĐỂ LẠI

Gia tài để lại cho con
Là những vần thơ yêu thương
Những trải nghiệm cuộc đời
Tháng năm đong đầy mồ hôi gian khó.

Gia tài để lại cho con
Là mảnh đất quê, mưa nắng, nhọc nhằn
Dòng họ mình bao đời khai thiên lập địa
Nơi núi rừng đất mỏ hoang vu…

Gia tài để lại cho con
Là mảnh đất cha ông sâu nặng tâm hồn
Cha đã đi qua chiều dài chiến tranh,được, mất
Có một hồn quê đau đáu ở trong lòng.


Gia tài để lại cho con
Là nơi con cất tiếng khóc đầu tiên
Là dòng sữa mẹ chắt chiu, không bao giờ cạn
Nâng con chập chững bước vào đời.

Gia tài để lại cho con… không gì hơn…
Vần thơ nhân ái, lý, chí làm người…







 

ĐẦU XUÂN 2016 - DIỄN ĐÀN VĂN CHƯƠNG & CUỘC SỐNG TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU MỘT SỐ BÀI TIỂU LUẬN TRONG TẬP "THỜI GIAN LÊN TIẾNG" CỦA NGUYÊN TỔNG BIÊN TẬP BÁO VĂN NGHỆ HẠ LONG



BÀI THƠ “RẮN ĐẦU BIẾNG HỌC”
KHÔNG PHẢI LÀ SÁNG TÁC
CỦA LÊ QUÍ ĐÔN


 Đây là bài thơ rất nổi tiếng từ lâu đã được truyền tụng trong dân gian, tương truyền là của Lê Quí Đôn, có trong Giai thoại văn học Việt Nam và nhiều sách khác. Nhân đầu xuân Quí Tỵ vừa rồi, nhiều báo và tạp chí, từ Hà Nội đến các địa phương và TP Hồ Chí Minh, ra số tết, số xuân, dẫn bài thơ này và đều ghi là của Lê Quí Đôn. Từ lâu tôi đã không tin điều đó. Bài thơ như sau:
RẮN ĐẦU BIẾNG HỌC
Chẳng phải liu điu cũng giống nhà
Rắn đầu biếng học quyết không tha
Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ
Nay thét mai gầm rát cổ cha
Ráo mép chỉ quen tuồng lếu láo
Lằn lưng chẳng khỏi vết roi cha
Từ nay Trâu Lỗ xin siêng học
Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia
 Tôi chép bài thơ này từ tạp chí Văn học và tuổi trẻ, dành cho cấp tiểu học, nhà xuất bản Giáo dục, số 1 năm 2013, trang 14, vốn là  một trong các xuất bản phẩm,    độ tin cậy được coi là cao nhất, vì nó nằm trong tiêu chí chung của nhà xuất bản này, là  dạy đạo làm người cho thanh thiếu niên cả nước. Những chữ hoa và in đậm, đều là nguyên văn của văn bản được dẫn. Rồi bài đăng trên báo Quân khu Ba, bài đăng trên tập chí Nguồn sáng dân gian gần đây... Rồi xưa hơn nữa là sách Quốc văn giáo khoa thư soạn cho học sinh lớp sơ đẳng từ trước năm 1945... cũng có in bài thơ này, “được cho” là của Lê Quí Đôn. “Tương truyền” hay “được cho” đều không có ý nghĩa khẳng định. Nếu so các văn bản ấy với nhau, thì không văn bản nào giống hẳn văn bản nào.
 Còn câu chuyện kể về hoàn cảnh ra đời của bài thơ này của cậu bé Lê Danh Phương, tên thuở nhỏ của Lê Quí Đôn, được ghi như sau:
 Có một ông khá cao tuổi đến thăm, hỏi nhà của bố cậu bé Phương. Lúc ấy Phương đang tắm trần truồng, liền bảo: nếu ông biết chữ này là chữ gì, cháu sẽ chỉ cho. Nói rồi cậu đứng dạng cả chân tay ra. Ông khách thấy thằng nhóc con lếu láo, nên đi thẳng. Phương nói với theo: Ê, ông quan to thế mà dốt à? Ông khách bực quá, quay lại nói: chữ ĐẠI chứ còn chữ gì. Cậu bé chỉ vào bộ hạ của mình, nói: Đây là chữ THÁI, thế mà không biết. (Vì chữ Đại thì không có một dấu chấm ở bẹn chú bé).
 Vào nhà bạn, mới biết đứa bé ấy là con bạn, bèn khen là thông minh hơn người. Nhưng ông Lê Trọng Thứ thì giận con lắm, bắt nằm xuống đánh đòn. Ông khách xin cho và bảo cháu làm thơ đi. Và bài thơ ứng khẩu được đọc ngay như trên. Tuy thế có một số chữ khác nhau trong các bản in khác nhau. Tạp chí Văn Hiến Việt Nam, chép câu 2: “Rắn đầu biếng học ắt không tha”, và câu 6: “Lằn lưng cam chịu vết năm ba”. Rồi nữa, Đại học khoa học Sài Gòn  số Xuân Quí Tị, lại in – Lằn lưng chẳng khỏi vết roi da  - Lê Quí Đôn bị cha đánh bằng “roi da” – chi tiết này, tôi chưa thấy ghi ở đâu, nay thấy ở đây – TNM nhấn mạnh) là những ví dụ, chắc còn chưa hết.
 Câu chuyện về hoàn cảnh ra đời của bài thơ đại khái như thế, truyện dân gian Trạng Quỳnh lại ghi là của Trạng Quỳnh, giai thoại về  Cao Bá Quát lại ghi là của Cao Bá Quát.  Đơn giản vì nó có chung một nguồn gốc là chuyện dân gian.
Cũng như câu thơ rất nổi tiếng:
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa
(Một đời chỉ biết cúi đầu lạy hoa mai)
 Mấy chục năm nay ta gán nó cho Cao Bá Quát và hết lời ca ngợi khí phách của ông trong câu thơ bất hủ này, thậm chí còn làm giả cả chữ của ông rồi đưa lên thờ. Thực ra, đó là thơ của viên tri huyện (có tài liệu ghi là tri phủ) Hán Dương tỉnh Hồ Bắc (Trung Quốc) tên là Ngải Tuấn Mĩ, nguyên văn như sau:
Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa
 Có bản dịch là
 Mười năm vất vả tìm cổ kiếm
 Một đời chỉ cúi lạy hoa mai
 Hai câu ấy, tri huyện Ngải Tuấn Mĩ viết tặng phó sứ nhà Nguyễn là Nguyễn Tư Giản năm 1868, khi sứ bộ Đại Nam sang triều cống nhà Thanh, đi qua đó. Chính Nguyễn Tư Giản đã ghi lại hành trình chuyến đi, với hai câu thơ trên trong cuốn Yên thiều bút lực năm 1868. Được biết văn bản hiện vẫn còn ở dạng chép tay của phó sứ Nguyễn Tư Giản, được lưu giữ tại Thư viện khoa học Trung ương. Chúng ta đều biết Cao Bá Quát đã mất từ năm 1854, nghĩa là trước đó đến 14 năm([1]). Ở ta, từ thời xưa, thường xảy ra những chuyện gán ghép vui vui như thế mà nhiều người cứ tưởng là thật, rồi viết sách truyền dạy cho nhau, từ đời nọ đến đời kia.
Lê Quí Đôn là một người thuần hậu, điềm đạm, mực thước - trong bản tính trước sau nhất quán. Ông tuy có làm quan, nhưng cả đời ông chăm lo vào các trước tác biên khảo, để ngày nay chúng ta có nhiều công trình văn hóa lớn do ông để lại.
 Tất cả những điều đó đều nói lên xuất xứ dân gian của thi phẩm. Hơn nữa, trong tất cả các sách đã xuất bản gồm những trang viết chính thức của nhà bác học Lê Quí Đôn, đều không có bài thơ này. Ở ta có một sai lầm không biết từ bao giờ mà cũng chẳng biết đến bao giờ mới kết thúc được, ấy là nhầm lẫn giữa huyền thoại, chuyện dân gian với lịch sử, rồi một lúc nào đó, nhập luôn chuyện dân gian, huyền thoại với lịch sử là một, làm cho các giá trị đã có đều biến dạng. Các ý kiến về bài thơ này nằm trong xu hướng nhầm lẫn đó, từ “tương tuyền”, hoặc “được cho” là của Lê Quí Đôn, đã thành “của” Lê Qúi Đôn, với tư cách là một sáng tác nghiêm chỉnh về mặt văn bản học, dù bài thơ đó, không phải của Lê Quí Đôn, thì vẫn cứ là bài thơ khuyết danh hay, nghệ thuật dùng từ vô cùng tài giỏi. Sau đó các bài đều giảng giải khá công phu từng câu một, với các loại rắn và đặc trưng của chúng, như liu điu, hổ lửa, mai gầm...
 Đến câu thứ 7: Từ nay Trâu Lỗ xin siêng học, (câu này thì tất cả các văn bản đều in như nhau) vấn đề tôi quan tâm là ở câu này. Văn bản tạp chí Văn học và tuổi trẻ giải thích, có một lọai rắn tên là hổ trâu, (trong  hai chữ TRÂU LỖ), tôi thấy không có sức thuyết phục. Và như thế, nếu theo cấu tạo của từ, khi đã có rắn trâu thì phải có rắn lỗ nữa chứ. Tạp chí Nguồn sáng dân gian lại giải thích chữ Lỗrắn ở lỗ. Rắn chả ở lỗ (hang) thì ở đâu? Rõ ràng là không ổn. Không thể tách TRÂU ra khỏi LỖ trong trường hợp này được, cũng như không thể tách liu điu là rắn liu và rắn điu, hay hổ mang là rắn hổ và rắn mang. Lại càng không thể giải thích rắn “trâu” thì ở “lỗ” còn rắn khác thì ở đâu? Tôi nghĩ tác giả tạp chí Văn học và tuổi trẻ có lẽ cũng nghĩ thế, nên đã viết tiếp: “Cậu cả Phương còn vận dụng cả điển tích đấy. Khổng Tử quê ở đất Lỗ, còn Mạnh Tử quê ở Trâu Thành. Hai ông này là các cụ tổ của Nho học, nổi tiếng tài cao học rộng. Tự ví mình như thế, kể cũng đáng nể đấy” (TNM nhấn mạnh). Tạp chí Nguồn sáng dân gian cũng giải thích theo cách đó, là “chỉ quê hương của Mạnh Tử, Khổng Tử, tượng trưng cho nho học”. Các tác giả giảng giải như thế đúng hơn, có sức thuyết phục hơn, như các sách thường giải thích từ xưa đến nay, đều cho là Trâu Lỗ không phải tên một loài rắn, vì không có rắn trâu lỗ, đặc biệt là không có rắn “lỗ” - mà là tên quê hương của Khổng Tử và Mạnh Tử. Báo Quân Khu 3, số đặc biệt tết Quí Tị vừa rồi, trang 38, bình bài thơ này, cũng viết với ý tương tự: “Bài thơ có nội dung ý tứ sâu sắc, dẫn cả điển tích về Khổng Tử và Mạnh Tử, nước Lỗ là quê hương của Mạnh Tử” (và của cả Khổng Tử). Vậy đã rõ.
 Chúng ta đều biết Lê Quí Đôn (1726 - 1784) là con nhà khoa bảng Nho học nổi tiếng Lê Trọng Thứ. Cụ Lê Trọng Thứ đỗ tiến sĩ năm 1724. Tôi có tư liệu gốc, ghi, năm 1748, khi Lê Quí Đôn 22 tuổi, cụ là “Thiêm sai Đông các hiệu thư” của bộ Lễ. Ở thời Lê, đạo Nho cực thịnh, là quốc đạo - mà bộ Lễ của triều đình làm nhiệm vụ “quản Lý nhà nước”, như chữ chúng ta dùng bây giờ. Ai từng biết sơ qua về các cụ nhà Nho, đều nhớ câu châm ngôn: “Thịt thái không vuông không ăn, chiếu trải không vuông không ngồi, lời nói không có lễ nghĩa, không nghe”. Ngay Hồ Xuân Hương (Hồ Xuân Hương thật 1772 - 1822, không phải Hồ Xuân Hương dân gian), theo lời của Tốn Phong, ghi ở đầu tập thơ Lưu Hương kí của bà, tháng 3 năm Giáp Tuất (1814), thì thơ Hồ Xuân Hương "xuất phát từ cảm hứng nhưng biết dừng lại ở phạm vi lễ nghĩa. Vui mà không đến nỗi buông tuồng... thơ đúng phép mà văn hoa...” Phạm Đình Hổ (1768 - 1839) tự thuật trong Vũ trung tùy bút: “rất ghét thanh sắc, nghề cờ bạc, và những chuyện rủ rê chơi đùa”. Ai nói những điều ấy thì ông “bịt tai lại, không muốn nghe”. Vậy mà thơ “truyền tụng Hồ Xuân Hương” còn cho ông là người “ghẹo nguyệt giữa ban ngày”, cho Hồ Xuân Hương, “cả cành đa lẫn củ đa”, và chửi đời rất sảng khoái theo kiểu lưu manh: “Rày thì đù mẹ cái hồng nhan”. Đến thời Nguyễn, Bộ luật Gia Long (do bậc nhất công thần nhà Nguyễn là Nguyễn Văn Thành làm tổng tài biên soạn) còn ghi: “Phàm quan văn võ ở đêm với con hát, hay đem con hát vào tiệc rượu, phạt 60 trượng”, nghĩa là giải ra công đường, lột mũ áo, đánh cho 60 gậy rồi đuổi về vườn.
 Phải nói dài thế để thấy các nhà Nho rất trọng đạo lí và các khuôn phép, coi đó là lẽ sống của mình. Có thể chết để giữ thanh danh chứ không vi phạm. Vậy thì làm sao tin được một cậu bé học Nho, con nhà Nho, một nhà Nho quan trường, 8 - 9 hay 10 tuổi (tức là lúc bố cậu đã đỗ tiến sĩ từ 10 đến 12 năm, đang làm quan, ăn lộc của triều đình Nho học, đang lo việc nhà nước về Nho học), sau khi bị cha đánh đòn, cùng một lúc, bằng cả roi treroi da (lằn lưngvết roi cha - hoặc như bản in của Nguồn sáng dân gian:  “Lằn lưng chẳng khỏi vệt năm ba ”. Rồi nữa, Đại học khoa học Sài Gòn  số Xuân Quí Tị – Lằn lưng chẳng khỏi vết roi da, ) mà dám nói thẳng với cha rằng: “Từ nay CỤ TỔ CỦA CHA (ĐƯỢC CÁC VUA THỜ Ở NHÀ THÁI MIẾU QUỐC TỬ GIÁM KINH ĐÔ THĂNG LONG là con đây) xin siêng học”. Và nếu điều ấy xảy ra thực, thì pháp chế phong kiến rất hà khắc, chắc chắn đã không để yên cho cha con cụ. Chúng ta đều nhớ công thần bậc nhất của nhà Nguyễn là Nguyễn Văn Thành, người đánh thắng Tây Sơn, góp công quan trọng nhất đưa Gia Long lên ngôi vua, cũng là người soạn Bộ luật Gia LongQuốc triều thực lục rất nổi tiếng, chỉ vì bài thơ tặng bạn (viết về việc đánh cờ tướng) của con là Nguyễn Văn Thuyên, bị kẻ tị hiềm xuyên tạc tố cáo mà bị tống giam, rồi chính vua Gia Long đã hạ lệnh chém đầu Nguyễn Văn Thuyên và buộc đệ nhất công thần Nguyễn Văn Thành phải tự xử bằng thuốc độc. Không có chuyện đùa khi nhà Nho đang học để đi thi, hoặc đã làm quan cho nhà nước Nho học, lại xúc phạm các bậc Đại thánh của nhà nước Nho học. Và bây giờ, nếu con các vị cũng nói rằng “Từ nay VUA HÙNG (là con đây - cụ tổ của các cụ tổ của bố) xin siêng học, bố ạ” (ấy là tôi chưa nói đến các vị còn linh thiêng hơn nữa khác - mới xứng với Cụ Khổng, Cụ Mạnh đối với các nhà Nho) liệu các vị có chấp nhận được không? Và điều đó có xảy ra không?
 Do đó tôi cho rằng, đây là bài thơ đời sau làm, được truyền tụng trong dân gian, rồi gán cho Lê Quí Đôn, cũng như rất nhiều trường hợp khác đã xảy ra, chỉ kể vài trường hợp, ví như bài thơ Văn tế cá sấu, được gán cho Hàn Thuyên, (bài của Hàn Thuyên cùng tên đã thất lạc) bài thơ Vịnh núi Mèo (xã Yên Đức, Đông Triều, Quảng Ninh - để phân biệt với bài thơ cùng tên ở Thanh Hoá) được gán cho Trần Nhân Tông, bài thơ Một gánh càn khôn được gán cho Trần Khánh Dư... và đặc biệt, một trường hợp rất phiền toái, đó là bài thơ Nam quốc sơn hà... được coi là “Bản tuyên ngôn độc lập thứ nhất” của dân tộc “do Lí Thường Kiệt viết”. Thực ra bài thơ này đã có từ thời Tiền Lê, có trước Lí Thường Kiệt với trận đánh của ông ít nhất là 95 năm, được chính thức gán cho Lí Thường Kiệt([2])...
Các bài trên kia, chỉ có vấn đề về thơ, hoặc cùng lắm là có vấn đề về lịch sử văn hóa. Còn bài thơ này gán cho Lê Quí Đôn, còn có vấn đề về đạo lí, về lễ nghĩa, về đạo đức, vô hình chung, đã cùng một lúc, xúc phạm đến nhân phẩm của Lê Quí Đôn, một nhà bác học uyên thâm, một nhà văn hoá lớn của dân tộc và đồng thời, cũng xúc phạm luôn cả cốt cách tiết tháo nhà Nho rất cao quí của cụ thân sinh - tiến sĩ Lê Trọng Thứ rất khả kính. Người đọc thoáng qua chỉ thích thú cái tài dùng chữ về các loại rắn mà dễ dàng bỏ qua cái tâm, cái đức, cái đạo, đã bị vi phạm rất nghiêm trọng trong bài. Theo tôi, cái đó với nhà Nho còn quan trọng hơn cả mạng sống của chính mình. Và như thế, việc gán bài thơ khuyết danh - sáng tác theo phong cách dân gian này cho Lê Quí Đôn, thật đúng với câu ca dao mà tôi nghe ở Thái Bình quê hương cụ: Yêu nhau như thế bằng mười phụ nhau. Trong con mắt của những người có lễ nghĩa, có đạo đức, biết trọng gia phong và trọng đạo học của cha ông, hình ảnh của nhà bác học Lê Quí Đôn và người cha kính yêu của cụ, nhà khoa bảng Nho học Lê Trọng Thứ - đã bị xâm hại rất nặng nề.
Với người thường, cụ Nguyễn Du còn nói: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, còn với nhà Nho thì không biết gấp lên bằng bao nhiêu. Chính vì rất ngưỡng mộ cả đức và tài của hai cha con cụ, mà tôi mới viết ra điều này, sau rất nhiều đắn đo. Rất mong được gia tộc của cụ và các vị cao minh xem xét cho.


(1) Gần đây trong bài viết “Trả lại tác phẩm cho tác giả” của Thái Doãn Hiểu đăng trên trang mạng của Hội Nhà văn Việt Nam (vanvn.net), câu thơ “Nhất sinh đê thủ bái mai hoa” cũng được nêu rõ xuất xứ của nó, là của Ngải Tuấn Mĩ (Trung Hoa), chứng tỏ điều đó được nhiều người quan tâm và đã đến lúc ngã ngũ được rồi, để tránh sự nhầm lẫn cho các thế hệ sau.
([2]) Bài thơ này, hiện sách giáo khoa đã ghi chính thức Khuyết danh rồi, sau hơn nửa thế kỉ gán cho Lí Thường Kiệt, và đến bây giờ, vẫn còn có người không có thông tin khoa học đó, vẫn viết là của Lí Thường Kiệt?