Wednesday, July 24, 2013

TÍNH NHÂN VĂN TRONG PHÊ BÌNH VĂN HỌC HÔM NAY

TÍNH NHÂN VĂN
TRONG PHÊ BÌNH VĂN HỌC HÔM NAY
Trần Đình Sử

   Thực tế nghèo nàn về thành tựu khoa học xã hội và nhân văn của chúng ta có thể tìm thấy nguyên nhân trong lối tư duy độc tôn một thời và đang tiếp tục ở lĩnh vực học thuật. Cội nguồn sâu xa của lối tư duy ấy đang nằm trong di chứng của thời kì chiến tranh kéo dài ba mươi năm và cuộc đấu tranh ý thức hệ tàn khốc. Nhiều người thường nói chiến tranh Việt Nam đã để lại di chứng nặng nề trong tâm thức người Mĩ. Nhưng thời gian tham gia của họ vào chiến tranh Việt Nam chỉ hơn mười năm. Thời gian chúng ta trải qua chiến tranh dài gấp ba họ và còn cõng thêm cuộc chiến tư tưởng cũng lâu bằng ngần ấy năm lẽ nào không để lại di chứng nặng nề trong tâm hồn người, cái mà nhiều người hôm nay vẫn gọi là chấn thương? Quy luật khắc nghiệt của hai cuộc chiến chồng chất ấy đã để lại nếp hằn sâu đậm trong tâm lí và tư duy, đến nay vẫn còn có tác dụng chi phối cách nghĩ, cách làm của con người hôm nay trong mọi hoạt động xã hội và cá nhân.
   Trong lĩnh vực văn hoá và tư tưởng thời ấy, mọi hoạt động khoa học, nghệ thuật và nói chung là văn hoá đều nằm trong phạm vi hình thái ý thức của nhà nước. Mà đã thuộc về hình thái ý thức của nhà nước thì phải thực hiện nhiệm vụ đấu tranh triệt để, không khoan nhượng: “Phàm cái gì chống lại tinh thần dân tộc độc lập và thống nhất, phải thẳng cánh đập tan. Phàm cái gì trái khoa học, phản tiến bộ, phải kiên quyết bài trừ. Phàm cái gì phản lại đại chúng, xa đại chúng, phải nhất luật san phẳng.”(Lời ông Trường Chinh). Đường lối cứng rắn, phân hoá địch ta rõ rệt có tác dụng xác lập mục tiêu, tập hợp lực lượng nhất định. Nhưng đồng thời, đó cũng là tư tưởng, đường lối làm cho xã hội quen sống trong môi trường tư tưởng độc tôn, duy nhất, luôn luôn coi phân biêt địch ta, đúng sai, tiến bộ, lạc hậu, dân tộc, phản dân tộc, khoa học, phản khoa học… theo một tiêu chí cố định, một lập trường, quan điểm cứng rắn, rồi trên cơ sở đó mà tiến hành nghiên cứu, đấu tranh học thuật. Lâu dần, hình thành một thứ tâm lí đấu tranh ý thức hệ ăn sâu trong tâm thức của nhiều thế hệ đến nỗi chiến tranh đã qua lâu rồi, đối lập ý thức hệ trên thế giới cũng qua rồi mà nó vẫn còn hiện diện như một cái gì đương nhiên, hợp lí trên đất nước ta.
   Trong điều kiện chuyển đổi hình thái xã hội, tiến sang kinh tế thị trường, tự do cạnh tranh, dục vọng cá nhân trỗi dậy, tính háo danh bùng phát, đồng thời ý thức quyền lực không chỉ vẫn nguyên, mà có cơ mạnh mẽ hơn, vì khả ăng thuyết phục yếu hơn, cơ chế dân chủ không được thực hiện đầy đủ, di chứng ấy lại có dịp bộc lộ với nhiều sắc thái.
     Nhìn chung di chứng ấy có các biểu hiện, mượn cách nói của một nhà lí luận nước ngoài thiết nghĩ có thể khái quát tình hình phê bình nghiên cứu của chúng ta như sau.
1.Phê phán nhiều, sáng tạo ít.
  Phải nói ngay rằng phê phán là một công cụ của tiến bộ. Bất cứ xã hội nào muốn tiến bộ nhất thiết phải có năng lực phê phán và chấp nhận những người phê phán. Song khái niệm phê phán ở đây có một nội hàm đặc biệt. Chúng ta đặt mục tiêu bảo vệ sự thuần khiết, trong sáng của chủ nghĩa Mác Lênin và đường lối chính trị của Đảng cầm quyền, do đó mọ phê phán chỉ nhằm đánh đổ mọi tư tưởng khác có thể làm phương hại hay phân tán khỏi tư tưởng trung tâm. Trong chế độ của ta không thừa nhận cái khác. Hoặc là ta hoặc là địch, không có cái thứ ba. Từ trước Cách mạng tháng Tám, trong điều kiện thuộc địa, nhưng Việt Nam đã có nhiều nhóm có xu hướng tìm tòi học thuật khác nhau, có thể nói là đa nguyên. Có báo chí tư nhân, có cơ hội cho ý kiến khác được phát biểu. Bắt đầu từ “Đề cương văn hoá”, chúng ta dần dần chỉ thừa nhận một khuynh hướng, một cách hiểu, một tư tưởng, bắt đầu phê phán nhóm Thanh Nghị, nhóm Hàn Thuyên, nhóm Xuân Thu nhã tập. Trong Kháng chiến chống Pháp chúng ta phê phán thơ không vần của Nguyễn Đình Thi, phê phán thơ Mới lãng mạn, phê phán những ai không thừa nhận văn nghệ là tuyên truyền. Sau hoà bình chúng ta phê phán nhóm “Nhân văn Giai phẩm”, tiếp theo phê phán “chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa xét lại hiện đại” trong văn nghệ, phê phán các ý muốn bổ sung hay nới rộng cách hiểu một vài vấn đề cụ thể của văn nghệ, như tính  chân thật, tính ước lệ của văn học, “phá vỡ lôgich cuộc sống”. Nói là “phê phán” nhưng không phải là thảo luận hay tranh luận học thuật nhằm tìm ra chân lí, mà thực chất là quy chụp, áp đặt cách hiểu duy nhất, tổ chức các cuộc những cuộc đấu tranh có tính đấu tố, nhằm quét sạch hay thủ tiêu các quan điểm khác với mình. Chính vì vậy mà nói chung bên bị phê phán không có quyền nói lại, không có quyền bảo vệ hoặc trao đổi ý kiến, họ không có lẽ phải nào, còn bên phê phán thì tha hồ nhân danh chính nghĩa, chủ nghĩa, nhân danh quần chúng nhân dân, nhân danh cách mạng, nhân danh văn hóa, nhân danh bản sắc dân tộc mà chụp mũ, quy kết các tội danh nguy hiểm về chính trị và tư tưởng, lối sống. Một phương pháp đấu tranh hữu hiệu là bôi nhọ nhân cách bằng cách chỉ ra lối sống hủ hoá, đồi truỵ, cá nhân chủ nghĩa hoặc tính cách tự cao, tự đại, xa rời quần chúng hoặc biểu hiện dốt nát, gian trá… của bên bị phê phán, làm cho họ trở thành kẻ đáng khinh bỉ, đáng ghét bỏ. Các cuôc đấu tranh ấy thường đều kết thúc bằng việc bên bị phê phán phải viết bản kiểm điểm và nhận một hình thức xử lí nặng hay nhẹ tùy theo mức độ nguy hiểm, về hành chính, tổ chức hay hình sự. Trong không khí ấy chẳng ai còn muốn hoặc có thể sáng tạo ra học thuyết, tư tưởng gì khác cho thêm phiền, mà nói cho đúng, lúc ấy chúng ta cũng không muốn có bất cứ tư tưởng nào khác ngoài tư tưởng chính thống, và con đường còn lại chỉ là “bàn thêm”, “mở rộng”, “nói rõ thêm”, “cụ thể hóa”, tức là minh hoạ cho tư tưởng chính thống ấy mà thôi. Vì vậy lúc ấy tuy chúng ta đã có không ít công trình khoa học mới, có giá trị nhất định về sử học, văn hoá, văn học, ngôn ngữ, lí luận văn học, nghệ thuật học…tuy mức độ giá trị khoa học khiêm tốn khác nhau, song các công trình ấy ít nhiều đều nặng về tính chất minh hoạ cho tư tưởng chính trị. Một số công trình khoa học có tính độc lập nhưng trái chiều thì phải cất đi, đến thời kì sau này mới có điều kiện công bố, ví như Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều của Phan Ngọc, nghiên cứu về Nho giáo của Trần Đình Hượu, ngữ học của Cao Xuân Hạo. Một số công trình phê phán có tính thời sự đương thời như Phê phán chủ nghĩa xét lại hiện đại trong văn nghệ của Hoàng Xuân Nhị , Phê phán chủ nghĩa hiện sinh của Đỗ Đức Hiểu thì sau này chính tác giả của chúng có phần lấy làm tiếc, giá trị khoa học thiếu hẳn sức thuyết phục.
   Tâm thức và cách ứng xử ấy hầu như vẫn còn giữ nguyên trong những năm thuộc thời kì đổi mới trong các cuộc tranh luận lí luận, phê bình sách giáo khoa, về các tác phẩm văn học, về luận văn khoa học. Cái mới của thời kì đổi mới có khi là những người bị phê bình không bị làm kiểm điểm hay xử lí về hành chính và tổ chức, nhưng họ vẫn bị chụp mũ, quy kết, chửi bới, bêu riếu mà không có quyền bảo vệ ý kiến của mình trên mặt báo. Ngày nay thì hầu như lại đang muố lặp lại nếp cũ. Có thể coi đó là biểu hiện rõ rệt của sự thiếu tính nhân văn.
   2. Công kích nhiều, thừa nhận ít.
   Tâm thức cảnh giác, đấu tranh tư tưởng trở thành thói quen thường trực trong những người làm công tác văn hoá văn nghệ. Trước một ý kiến mới, khác với truyền thống, người ta liền cảnh giác, nghĩ ngay đến một xu hướng muốn phủ nhận các thành tựu đã có của cách mạng và đặt vấn đề nghi vấn, phê phán, có khi nghiêm trọng hơn, người ta nghĩ là phản động, bị lực lượng thù địch lợi dụng. Vào đầu những năm 60, có người nêu phương pháp sáng tác có tính độc đáo thẩm mĩ, thế là có người đặt vấn đề nhầm lẫn phương pháp với phong cách (bởi chỉ phong cách mới độc đáo!), phải chăng là định đem phong cách thay thế cho phương pháp sáng tác, một vấn đề cốt tử đối với nền văn học! Thế là tranh luận, chụp mũ không dứt.  Sang những năm 70, có người nêu vấn đề tiếp nhận của người đọc, lập tức ông Vũ Đức Phúc, một người chủ trì Tạp chí văn học hồi ấy nghĩ ngay đến vấn đề, đề cao việc người đọc tự tiếp nhận tức là xem nhẹ vai trò định hướng, giáo dục của văn học đối với quần chúng, đề cao tiếp nhận có nghĩa là xem nhẹ lí luận sáng tác, vậy là tổ chức tranh luận ầm ĩ. Đến những năm 80 trước một số ý kiến đánh giá laị văn học cách mạng, Phan Cự Đệ và một số người nghĩ ngay đến xu hướng phủ định văn học cách mạng. Trước một vấn đề mới, người ta không suy nghĩ đến khía cạnh khoa học mới và khác ở trong đó, mà nghĩ ngay đến sự phương hại của cái mới ấy đối với trật tự lí luận đã xác lập. Thế là vấn đề tiếp nhận của người đọc, một vấn đề lí luận quan trọng bị gác lại, phải mười lăm năm sau nó mới được đề cập tới. Trong các cuộc tranh luận ấy phần lí tính thì ít mà phần phi lí tính, định kiến, thiên kiến thì nhiều, do vậy không bao giờ đem lại một kết quả nào về khoa học. Chúng ta ít có thói quen khi có người nêu ra ý mới thì nên xem xét đúng sai, lợi, hại, thấy có chỗ đúng và lợi thì góp sức phát huy, làm cho tư tưởng ấy phát triển. Ngược lại chúng ta hầu như chỉ quen phát hiện cái mặt yếu, mặt sai, mà mặt này, đối với các ý kiến mới đề xuất nhiều khi khó tránh được, bám vào đó mà đánh, làm cho cái mới, cái hay không thể nào phát huy được. Chúng ta không quen thừa nhận thành tựu của nhau, cùng suy nghĩ với nhau, tìm thấy hạt nhân hợp lí để mở rộng không gian tư tưởng. Thói quen đó sẽ phát huy tính tiêu cực của nó trong thời kinh tế thị trường, báo chí muốn bán chạy, nhiều trường hợp người ta không chỉ khai thác một vài khiếm khuyết nhỏ, mà còn không ngại ngần bịa đặt, bóp méo thêm để công kích, bất chấp lương tâm, phải trái, làm cho dư luận rối tung, không biết đâu mà lần. Đó cũng là biểu hiện thiếu nhân văn.
  3. Thù hận nhiều, khoan dung ít
Trong chiến tranh, cách mạng mọi người đòi hỏi vạch rõ ranh giới bạn thù, địch ta để tiến hành cuộc đấu tranh một mất một còn, không khoan nhượng, tuyên truyền giáo dục cho quần chúng một mối “thù muôn đời muôn kiếp không tan” đối với kẻ thù. Không chỉ đối với kẻ thù cầm súng như thế, mà đối với “kẻ thù”cầm bút, kẻ thù tư tưởng cũng như thế, không thể có sự khoan nhượng, thoả hiệp, thông cảm trên các mặt quan điểm, lập trường, khuynh hướng giá trị về văn hoá, văn học và tư tưởng.  Ai có dịp đọc lại các hồ sơ về các cuộc đấu tranh tư tưởng trước đây sẽ thấy, nhiều người vốn là đồng chí, đồng nghiệp, vốn đồng cam cộng khổ, vào sinh ra tử với nhau, chỉ sau một cuộc đấu tranh tư tưởng, sau khi vạch rõ “ranh giới”, liền trở thành kẻ thù, đứng ra vạch mặt, tố cáo nhau như kẻ thù của ý thức hệ, đẩy đối phương vào bước đường cùng. Đó là do cần phải thể hiện tinh thần chiến đấu, chiến đấu không khoan nhượng mà thành ra thế. Phải nói rằng đó là một cách đơn giản hoá cuộc sống rất nguy hại của thời đối kháng ý thức hệ, bởi vì người ta đã dùng quyền lực để chiến đấu, áp đặt nhận định, kết luận thì còn cần gì tiêu chuẩn chân lí khách quan nữa? Và thế là nhiều cuộc đấu tranh diễn ra bất công, bất chấp lẽ phải thông thường, làm thương tổn biết bao người làm nghề sáng tạo mà đến hôm nay vết thương vẫn chưa lành. Chiến tranh đã qua lâu rồi, đứng trước nhiều vấn đề học thuật, văn hoá, văn học, giáo dục phức tạp, vốn nhất thời không thể dễ dàng vạch rõ được đúng sai, phải trái, nhưng thói quen cũ lại tái phát, lại có nhiều người nhân danh chế độ, nhân danh xã hội, nhân danh công luận phê phán theo lối vùi dập và đăng một lúc nhiều báo mà không cho nói lại. Có lần tôi tiến hành đối thoại với một nhà lí luận phê bình khác về sáng tác của một nhà thơ, tôi dành thiện cảm cho nhà thơ ấy, nhưng đồng thời nêu một số ý tưởng về lí luận. Vấn đề ấy còn để ngỏ, đúng hay sai đều có thể  bàn thêm. Không ngờ “vụ ấy” được hiểu như là “hạ bệ thần tượng”, xúc phạm thành tựu của văn học cách mạng, và sau đó không lâu tôi nếm “đòn thù” bởi một lí do bịa đặt. Tôi từng đề nghị với một nhà thơ có ý kiến khác về một số bài viết của tôi, tiến hành đối thoại trên tinh thần học thuật, nêu lí lẽ để cùng trao đổi, tham khảo, nhưng nhà thơ ấy im lặng, lãng tránh và sau đó dùng chiêu “ra tay trước”, đăng báo để áp đặt ý kiến của mình cho công luận với thái độ trịch thượng. Có lần tôi nêu ý kiến phê bình văn học chúng ta còn “thiếu chuyên nghiệp”, (vấn đề mà gần đây Nghị quyết 23 BCT nhắc đến và Hội nhà văn Việt Nam đang tổ chức triển khai thảo luận!) thế là chuốc lấy một cuộc phê phán có tính hội đồng, mấy người phao lên rằng chính tôi là không chuyên nghiệp, tôi không phải nhà phê bình, lại còn nêu một vài chi tiết chưa chính xác của tôi để phủ nhận việc phê bình thơ của tôi. Thế là vấn đề mà tôi nêu ra để xây dựng đã bị vùi lấp một cách oan uổng. Rõ ràng đó không phải là tranh luận học thuật mà công kích cá nhân.  Có nhà thơ viết hết bài bày qua bài khác, phát huy tài năng bịa đặt, xuyên tạc để công kích hầu hết các nhà trí thức, trong đó có tôi. Đó là cách làm vượt ra ngoài phạm vi phê bình mà trở thành hành vi vu khống, hãm hại. Có người còn bịa đặt chứng cớ, xuyên tạc để dễ bề đánh đổ đối phương. Như thế  mà có người khen là có tinh thần chiến đấu! Đó là biểu hiện thiếu tính nhân văn.
 Tâm lí đấu tranh tiêu diệt kẻ thù đã làm mất đi tinh thần khoan dung vốn có truyền thống lâu đời trong xử thế của người Việt và người phương Đông. Trung thứ của đạo Nho, từ bi của đạo Phật đã ăn sâu vào tâm lí người Việt bao đời. Thực ra đã làm nghề phê bình, nghiên cứu thì khó mà tránh khỏi sơ suất, nhầm lẫn. Không ít nhà phê bình tầm cỡ, được một thời sùng bái mà vẫn nhầm lẫn ở một số chỗ buồn cười, nhất là trong tiểu tiết. Có sơ suất nhầm lẫn thì tuỳ mức độ mà phê bình. Không thể vì một sơ suất nhỏ chỉ đáng dọn vườn mà đưa ra những kết luận nặng nề về trình độ, nhân cách, học vấn. Ở đây phê bình cần có sự khoan dung, thông cảm mới khích lệ người ta vượt qua để làm tốt những việc khác. Tiếc thay trong phê bình, thảo luận học thuật một số người đã đem tinh thần căm thù giặc mà thay thế cho tinh thần khoan dung.
Truyền thống tư tưởng phương Đông ở Trung Quốc và Việt Nam xưa chủ trương trọng tình và trọng văn trong phê bình. “Trọng tình” nghĩa là coi trọng tự thân thể nghiệm, lời văn bao giờ cũng chứa chan tình cảm. Đồng thời coi trọng quan hệ giữa người với người, tức tinh thần nhân văn theo nguyên tắc nhân ái, “kỉ sở bất dục vật thi ư nhân”. Đọc các bài tựa, bạt trong sách Từ trong di sản sẽ thấy tinh thần trọng tình ấy.“Trọng văn” nghĩa là thích văn hoa, thích văn đẹp, khác với phương Tây chỉ thích văn chặt chẽ, rõ ràng. Người xưa cũng thích lí tính, thích văn có triết lí, lời gần mà ý xa, có nhiều ngụ ý.
Tuy nhiên truyền thống tư tưởng của chúng ta thiếu vắng các cuộc tranh luận khoa học thật sự, vì truyền thống ấy coi trọng “chữ đồng”; “Tam giáo” rất khác biệt vẫn “đồng nguyên”. Do coi trọng chữ đồng cho nên xã hội, văn hoá ít có biến động lớn, xã hội gần như dẫm chân tại chỗ, ít phát triển. Trong thời đại ngày nay, sự phát triển nhân tố “hữu biệt” có ý nghĩa kích thích đối với sự phát triển của khoa học. Mà đã “hữu biệt” thì tất nhiên cần có tranh luận để tìm ra chân lí. Không phải vô cớ mà từ khi bước vào thế kỉ 20 trên văn đàn Việt Nam xuất hiện lại nhiều cuộc tranh luận về học thuật, tư tưởng đến như thế. Đó là cái mới, đòi hỏi tinh thần nhân văn mới, khác với tinh thần nhân văn thời phong kiến.
Nhân văn trong xã hội hiện đại trước hết gắn liền với các tư tưởng về quyền của con người, như dân chủ, tự do, bình đẳng; gắn với ý thức về tính chủ thể của mỗi người, với tinh thần đối thoại trong quan hệ với các thành viên xã hội khác. Tinh thần nhân văn đòi hỏi mỗi người phải tư duy bằng cái đầu của mình, kinh nghiệm của mình, không được dựa dẫm vào  người khác, làm công cụ nói theo người khác.
 Mặt khác, tinh thần nhân văn hiện đại không chấp nhận bá quyền độc thoại của một số ít người, một tầng lớp người, còn đại đa số nguời khác thì bị tước đoạt mất tiếng nói. Vì vậy mà có điều khoản tự do ngôn luận được quy định trong hiến pháp. Tinh thần nhân văn không thừa nhận độc quyền chân lí. Chỉ một số ít “ưu tú, “tinh hoa” là có chân lí, còn những người khác thì chỉ có nhầm lẫn và sai lầm!” Không đúng, đó chỉ là huyền thoại thuần tuý của ý thức độc thoại lỗi thời. Điều này nhà lí luận Nga M. Bakhtin đã nói rõ. Chân lí không thể tự nó thừa nhận, cũng không thể chỉ do một người phát minh thừa nhận. Chân lí nằm trong đối thoại và chỉ qua đối thoại mới được mọi người thừa nhận. Và ai có điều kiện nghiên cứu, tìm hiểu, học hỏi thì sẽ có điều kiện tiếp cận chân lí nhiều hơn người chỉ biết áp đặt nhận định tuỳ tiện.
Tinh thần đối thoại dựa trên nền tảng tôn trọng sự tồn tại của mỗi người, xem con người là chủ thể, không phải đồ vật. Là chủ thể, con người không chấp nhận người khác kết luận về mình một cách tuỳ tiện, con người luôn có nhu cầu và khả năng nói tiếng nói cuối cùng về mình. Do đó đối thoại đòi hỏi phải biết lắng nghe. Trong cuộc tranh luận mà người tham gia chỉ muốn giành phần thắng bằng mọi giá thì chân lí không xuất hiện, bởi vì lúc đó lẽ phải tắt tiếng. Theo Bakhtin, tồn tại có nghĩa là sống giữa ý thức và lời của người khác, không ai có thể sống ngoài ý thức và lời của người khác, và cũng không ai có thể đứng ngoài sự phán xét của người khác. Bao nhiêu người đã làm mưa làm gió vào thời khi họ còn nắm chút quyền lực, một khi thời họ qua đi, hãy lắng nghe xem người ta nói gì về họ.
Nhà lí luận phê bình văn học đương đại Trung Quốc Tiền Trung Văn nhận xét, lối tư duy chỉ thừa nhận đã là A thì không B, chỉ tôi đúng, anh sai, chỉ tôi thắng anh thua, là kết quả của truyền thống tư duy độc thoại siêu hình thâm căn cố đế. Nhà phê bình trên cho biết, thực trạng ở Trung Quốc cũng như vậy, người ta vừa phê phán lối tư duy ấy vừa lặp lại lối tư duy ấy, tiến hành áp đặt người khác một cách ngon lành, không hề có chút nguyện vọng xây dựng để đi đến đối thoại. Theo ông, đó là do chỉ chú trọng đến “giải thích” mà bỏ qua sự “hiểu”. Phê bình phải đem đến sự hiểu. Theo Bakhtin, “khi giải thích thì mới chỉ có một ý thức, một chủ thể, còn khi hiểu thì có hai ý thức, hai chủ thể….Do có hai ý thức nên khi ‘hiểu’ thì bao giờ cũng có đối thoại trên một mức độ nhất định.” Trọng tâm của khoa học nhân văn không ở giải thích mà ở sự hiểu, mà hiểu là đối thoại giữa người với người, là giao lưu chủ thể với chủ thể, giao tranh ý thức với ý thức, là anh với tôi thảo luận để cùng bỏ sai tìm đúng, lấy dài bù ngắn, cùng nhau phát hiện đi đến hiểu vấn đề. Trong đối thoại có khát vọng đồng thuận với chân lí. Như vậy đối thoại là nguyên tắc nhân văn lớn nhất của thời đại chúng ta. Trong đối thoại hàm chứa tinh thần khoan dung. Khoan dung không phải là tha thứ, dung thứ mà là mở lòng thừa nhận người khác, đối xử với người khác như chính mình. 
 Lí luận phê bình văn học của chúng ta thiếu tinh thần nhân văn đã quá lâu rồi, đến nỗi lấy thế làm thường và vì vậy mà nẩy sinh nhiều hiện tượng không lành mạnh. Đã đến lúc lấy tinh thần đối thoại mà xây dựng tinh thần nhân văn, học đối thoại để nuôi lấy tinh thần nhân văn, có như thế thì lí luận phê bình nước ta mới có ngày được phát triển phong phú thực sự. Một vài người tự độc thoại, tự tâng bốc nhau, dè bỉu, xuyên tạc người khác thì làm sao có chân lí để xây dựng lí luận và phê bình lành mạnh. 

Bài đã đăng Tạp chí Sông Hương, Hà Nội, 5 – 10 – 2008, TĐS

Monday, July 22, 2013

Phê bình văn học chuyên nghiệp – một cái nhìn lịch sử

Phê bình văn học chuyên nghiệp – một cái nhìn lịch sử

Trần Đình Sử

Phê bình văn học vốn là phản ứng tự nhiên của người đọc đối với tác phẩm. Vì thế hình thức phê bình đầu tiên của con người là phê bình tự phát. Đọc xong một cuốn sách hay thì vỗ đùi khen, nếu đọc cuốn sách dở, buột miệng chửi một tiếng, hay khi trà dư tửu hậu, hoặc lúc dạo chơi với bạn bè, bàn bạc mấy câu về cuốn sách nào đó… Đó là phê bình tự phát. Loại phê bình này chủ yếu là phê bằng miệng, bằng động tác, như phẩy tay, dẫu miệng…đều là tự phát cả. Sau này trong các xa lông sang trọng của các bà quý tộc, các bà mệnh phụ sau cuộc chơi bài, đàm đạo mấy cuốn sách vừa xem, đó vẫn là phê bình tự phát. Anh Hoàng trong truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao, khi nghe vợ đọc Tam quốc diễn nghĩa, đến chỗ hay, vỗ đùi đánh đét khen :”Tài thật, Tài thật. Tài đến thế là cùng. Tiên sư anh Tào Tháo!”, “Tiểu thuyết thì nhất anh Tàu.” Đó cũng là phê bình tự phát. Phê bình tự phát có mọi nơi, mọi lúc, đồng hành cùng sinh hoạt văn học của con người. Dù cho phê bình chuyên nghiệp có chết hết đi thì phê bình tự phát vẫn sống. Phê bình tự phát khi thành dư luận mạnh mẽ buộc phê bình chuyên nghiệp phải nhào vô giải thích. Phê bình tự phát thường có ba nhược điểm. Một là thường nói theo, nói leo. Người đã đọc sách nhận xét đã đành, người không đọc cũng nghe rồi nói theo, bàn tán, thực ra là nói mò. Hai là phê bình tự phát dễ biến thành ý kiến nhóm, có thói quen riêng, thiếu cái nhìn toàn bộ, dễ thiên lệch. Ba là dễ chạy theo thời thượng, đồng thời cũng nhanh chóng bị thay thế, thiếu bền vững, hôm nay vừa khen, ngày mai thấy nói khác, lại nói theo, số phận ngắn ngủi. Có một thời, sách xuất bản xong liền có cán bộ đi thu thập ý kiến bạn đọc các giới, kết quả thu được chỉ là các dư luận như thế, rất ít tính khoa học. Tất nhiên phê bình chuyên nghiệp cũng góp phần định hướng cho phê bình tự phát, giúp nó sâu sắc hơn.
Phê bình chuyên nghiệp là thứ phê bình khác, nó có nhiệm vụ riêng, yêu cầu riêng, là sản phẩm của sự phân công lao động xã hội. Theo A. Thibaudet, nhà tư tưởng Khai sáng Pháp là Voltaire (1694 – 1778) có lần nói: “Trong các nước hiện đại, khi người ta chú tâm phát triển văn học thì nảy sinh loại phê bình chuyên nghiệp. Người này cũng giống như các ông thú y ngoài chợ, hàng ngày đi kiểm tra các loại lợn đem bán, nếu có bệnh thì cấm bán, nếu lành thì đóng dấu cho lưu hành.” Như thê người phê bình chuyên nghiệp đầu tiên có thể coi giống như nhân viên thú y kiểm dịch ngoài chợ, thấy có bệnh thì kêu lên, để mọi người tránh xa, không mua hàng đó. Cứ theo chức năng đó thì nhà phê bình chuyên nghiệp kiểm dịch đầu tiên của nhân loại phải kể đến là Đức Khổng Tử, người Tàu. Ông này sống vào năm 552 – 479, trước Platon (427-327), người Hi Lạp 100 năm. Khổng Tử đã chọn lựa trong hàng vạn bài ca dao, dân ca của các nước trong lãnh thổ Trung Hoa cổ đại, chọn lấy 305 bài, theo tiêu chí “tư vô tà”, tức là tư tưởng không có gì sai trái, lệch lạc, đồi trụy, có thể lưu hành. Còn các bài khác đã bị ông vứt bỏ, thất truyền hết. Tuy nhiên, ông là bậc thầy lỗi lạc, ông đã  lấy ngôn chí, tải đạo làm gốc, có sự thống nhất giữa mĩ và thiện, chấp nhận thi ca có thể hứng, quan, quần, oán, văn chất thống nhất với nhau, cho nên tuy chỉ chọn có 305 bài mà gồm đủ thi ca nhiều nước, các tác phẩm xuất sắc, đa dạng. Platon thì quá cực đoan, ông coi thi ca (văn học ) đều là dịch, thế là ông đuổi nó ra khỏi nước Cộng hòa lí tưởng của ông.
Loại phê bình chuyên nghiệp thứ hai theo cách hiểu của Thibaudet là phê bình văn học về phương diện nghề nghiệp. Nội dung này đổi thay theo lịch sử. Trước hết nó bao gồm phê bình theo các quy tắc sáng tác mà chủ yếu là quy tắc thể loại, phong cách, tức là thi pháp học. Người đầu tiên thuộc loại này là Aristote (384 -322), viết sách Thi pháp học, Tu từ học, tuy thiên về lí thuyết, nhưng ông cũng đã phân tích các tác phẩm kịch của Eschyle, Sophocle về các mặt quy tắc thể loại. Tiếp theo là Longinus (213-278) bàn về caí cao cả. Đến thế kỉ thứ 5 sau công nguyên mới xuất hiện nhà lí luận nổi tiếng Trung Quốc Lưu Hiệp (sinh khoảng 465, năm mất không rõ) viết Văn tâm điêu long bàn về phép làm văn, các thể loại, các phong cách. Ở phương Tây đến thế kỉ XVII loại phê bình theo tiêu chí quy tắc thể loại này đạt đến toàn thịnh.
Tuy phê bình theo quy tắc thể loại, nhưng họ lại xử lí tác phẩm theo quy tắc kiểm dịch, nghĩa là tác phẩm nào không theo đúng quy phạm thể loại là bị chê. Theo Thibaudet cho biết, thế kỉ XVII Tể tướng Pháp là Richelieu đem áp đặt cho Viện Hàn lâm Pháp loại phê bình kiểm dịch này. Bất đắc dĩ Viện Hàn lâm Pháp phải chấp nhận, nhưng chỉ làm một lần duy nhất rồi thôi. Ở Trung Quốc xưa phê bình kiểm dịch thực hiện việc phát hiện các vụ án văn tự ngục khiến bao nhiêu văn sĩ rơi đầu. Truyền thống này léo dài đến thời Mao, thời Cách mạng văn hóa. Ở nước ta trong thời kì bắt đấu xây dựng chủ nghĩa xã hội phê bình chuyên nghiệp cũng thực hiện nhiệm vụ kiểm dịch, chỉ ra các biểu hiện tư sản, phản động, đồi trụy, xét lại, bôi đen chế độ…Thực tế lịch sử cho thấy loại phê bình này tuy có tính chuyên nghiệp, đúng hơn là tính nghiệp vụ, song chất lượng thực tế có nhiều vấn đề đáng bàn, có nhiều sai sót và nhiều khi gây hậu quả không thể sửa chữa được.
Ở phương Tây phê bình chuyên nghiệp về nghệ thuật đã phản ứng rất mạnh với phê bình kiểm dịch. Có lần một nhà phê bình, hình như Jean Chapelaine thì phải, chỉ trích tác phẩm của Corneille, Nicolas Boileau liền bỏ ra ngoài, không nghe.  Từ đó về sau phê bình chuyên nghiệp phương Tây chuyển sang phê bình hàn lâm, khoa học. Ở phương Đông hình như muộn hơn một chút, bắt đầu từ thời Ngụy Tấn, túc là khi tư tưởng đại nhất thống, độc tôn nho học sụp đổ. Đó là vào thời gian từ thế kỉ I CN cho đến thế kỉ VI CN. Sau đó là thời Tùy Đường, Ngũ đại. Sau Lưu Hiệp là Chung Vinh, tiếp theo là các nhà thi thoại, bắt đầu từ Lục nhất thi thoại của Âu Dương Tu. Ở Trung Quốc nói chung không có nhà phê bình chuyên nghiệp, phần lớn là các nhà thơ, có làm quan hay ở ẩn, vừa sáng tác vừa kiêm bàn về thi ca cũng rất chuyên nghiệp theo lối sành sỏi, chứ không phải theo phân công xã hội.  Đến đời Minh Thanh mới có các nhà bình điểm tiểu thuyết đóng vai trò phê bình chuyên nghiệp. Ví như Kim Thánh Thán, ông không sáng tác mà chỉ bình điểm (phê bình). Đặc điểm chung của phê bình chuyên nghiệp lúc này là phê bình về phong cách và thể loại, cách đọc.
Mặc dù nêu ra nguyên tắc mô phỏng tự nhiên, song các nhà phê bình phương Tây đều quan tâm mô phỏng để sáng tạo thể loại, chứ không phải sáng tạo đối tượng. Khi Aristote viết: “Cái mà bi kịch mô phỏng không phải là con người, mà là hành động, đời sống của con người…Bi kịch là sự mô phỏng hành động, chủ yếu là để mô phỏng hành động, mới mô phỏng con người trong hành động.” Câu này nói lên rằng sự mô phỏng tự nhiên trong học thuyết của Aristote chỉ nhằm để sáng tạo ra hình thức của nghệ thuật. Đỉnh cao của phê bình thể loại ở phương Tây là thời kì chủ nghĩa cô điển thế kỉ XVII. Mọi tác phẩm đều được xét theo quy tắc thể loại. Các nhà phê bình quyền uy như Jean Chapelaine rồi Nicolas Boileau tiếp theo nhau xác định nguyên tắc “tam duy nhất” và Chapelaine đã buộc các nhà viết kịch đi theo quy tắc này. Mô phỏng tự nhiên chưa hề là yêu cầu để xem xét về nội dung của nghệ thuật đối với hiện thực. Lưu Hiệp, Chung Vinh, các nhà thi thoại, các nhà bình điểm chủ yếu đều chỉ phê bình thể loại và phong cách mà thôi. Chính truyền thống này đã ảnh hưởng đến phê bình văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan chủ yếu là các nhà phê bình về phong cách và quy tắc thể loại. Nói đến tính chuyên nghiệp có nghĩa là chuyên nghiệp trong các lĩnh vực đó, chứ không phải là chuyên nghiệp theo kiểu lấy phê bình để làm kế sinh nhai như sau này nhiều người hiểu lầm. Trên đời xưa nay trừ các nhà quý tộc, không ai sống được bằng nghề phê bình.
Từ thế kỉ XVIII ở phương Tây các nhà phê bình lãng mạn chủ nghĩa mới dần dần bác bỏ nguyên lí mô phỏng có từ thời cổ đại và bắt đầu quan tâm đến mối quan hệ văn học với  tính chân thực của tình cảm và tưởng tượng, hư cấu. Lúc này nghệ thuật không mô phỏng tự nhiên nữa, mà dùng trí tưởng tượng và tình cảm làm biến đổi hình ảnh về hiện thực. Theo M. H. Abrams trong sách Gương và đèn – lí luận chủ nghĩa lãng mạn và phê bình văn học truyền thống (1953) đã tổng kết quan niệm văn học và hiện thức theo quan điểm lãng mạn chủ nghĩa như sau: 1) Thơ chân thực bởi vì nó phản ánh một hiện thực siêu vượt lên trên thế giới cảm giác; 2) Thơ chân thực, bởi vì bài thơ là một tồn tại, có giá trị, là sản phẩm nảy sinh từ tình cảm thực tế và kinh nghiệm của trí tưởng tượng; 3) Thơ chân thực bởi vì nó  đối ứng với những sự vật hàm chứa tình cảm và trí tưởng tượng của người quan sát, hoặc bị các yếu tố đó làm biến đổi. Phê bình phải đi tìm sự khác biệt của văn học so với tự nhiên do tình cảm và trí tưởng tượng tạo nên. Vậy là nhiệm vụ của phê bình văn học đã thay đổi so với truyền thống.
Bước sang đầu thế kỉ XIX quan niệm văn học thay đổi khiến cho nhiệm vụ của phê bình văn học cũng thay đổi theo. Quan niệm khoa học, quy luật tiến hóa, chủ nghĩa thực chứng đã xem văn học là sản phẩm của lịch sử. Honoré Balzac tuyên bố nhà văn là người thư kí của thời đại, E. Zola coi sáng tác là thực nghiệm khoa học. K. Marx, F. Engels coi văn học là nhận thức xã hội, nhân vật văn học phải thể hiện cái bản chất giai cấp mà nó đại diện. Tính cách điển hình là sản phẩm của hoàn cảnh điển hình, cả hai là sản phẩm của lịch sử. V. N. Belinski coi nhiệm vụ văn học là sáng tạo các điển hình, những người lạ quen biết. Giá trị văn học phụ thuộc vào đối tượng mà nó phản ánh. Đây là điển hình của tầng lớp tư sản đang lên, kia là điển hình của tầng lớp hiệp sĩ lỗi thời, nọ là điển hình của lớp người thừa. Thắng lợi của chủ nghĩa hiện thực là hình tượng chân thực đi ngược lại thế giới quan và thiện cảm chủ quan của nhà văn. Nhiệm vụ của phê bình văn học là chỉ ra cái hoàn cảnh, điều kiện lịch sử, và con dường dẫn đến các điển hình văn học. Saint Beuve chỉ ra yếu tố tiểu sử, Hyppolyte Taine chỉ ra ba nhân tố tạo ra văn học nghệ thuật: chủng tộc, địa lí, thời cơ. Brandes kết hơp cả hai lí thuyết mà viết nên các trào lưu văn học châu Âu thế kỉ XIX. Gustave Lanson vận dụng các yếu tố ngoại tại để viết lịch sử văn học Phấp. Toàn bộ phê bình văn học đi tìm các nhân tố ngoại tại để giải thích văn học. Nhiều nhà phê bình văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 tiếp thu các trào lưu phê bình này. Ví dụ Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm so với Lịch sử văn học Pháp của Lanson.
Với sự thành công của cách mạng vô sản ở Nga rồi lan ra các nước Đông Âu, Á châu, Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, Triều Tiên, quan niệm của văn học lại thay đổi. Văn học là công cụ tuyên truyền lí tưởng cộng sản, đối tượng biểu hiện là công nông binh, đề cao tính giai cấp, phủ nhận tính người, ca ngơi chế độ mới chuyên chính vô sản, văn học và phê bình đều là vũ khí phê phán mọi lực lượng thù địch. “Lấy cán bút làm đòn xoay chế độ, Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền”. Thơ ca là tạc đạn, là vũ khí tấn công, thực hiện nhiệm vụ chuyên chính vô sản. Phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa thực chất là vũ khí miêu tả hiện thực theo quan niệm của Đảng, là công cụ để giáo dục lí tưởng cộng sản cho nhân dân. Văn học hoàn toàn biến thành chính trị hóa, phê bình là công cụ đấu tranh chính trị, phê phán mọi tư tưởng trái với tư tưởng của chủ nghĩa Mác Lênin, Mao Trạch Đông, đường lối của Đảng. Phê bình văn học trơ thành công cụ sát phạt các tư tưởng khác mình. Phê bình cũng ngợi ca các mẫu mực của văn học cách mạng theo quan điểm của Đảng. Đáng tiếc, theo thời gian phần nhiều các tác phẩm mẫu mực ấy ngày càng mất giá, rất ít tác phẩm còn đứng được với thời gian, ngoại trừ chủ yếu là các tác phẩm thể hiện lòng yêu nước nồng nàn, sự hi sinh cao cả trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Đó là một nhiệm vụ phê bình văn học hết sức đặc thù, chỉ hợp với tính chất không bình thường của thời chiến.
Ở các đô thị miền Nam, trong bối cảnh chính trị khác đã tiếp thu các hệ hình mới của phê bình văn học phương Tây từ đầu thế kỉ XX đến sau thế chiến II và đã hình thành những phong cách, có những tìm tòi và thành tựu.
Nhưng rồi các cuộc chiến tranh cũng kết thúc, chiến tranh lạnh cũng tiêu tan. Phe xã hội chủ nghĩa đã sụp đổ.  Cuộc sống trở lại thời bình. Những kẻ thù từng đánh nhau đang chuyền dần sang đối tác làm ăn có hiệu quả, trong khi có người bạn lộ rõ dã tâm xâm chiếm lãnh thổ. Hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa kinh tế và tri thức. Sự giao lưu, tiếp xúc văn học Việt Nam với thế giới cởi mở chưa từng thấy. Với các điều kiện đó, phê bình văn học Việt Nam đã đổi thay hoàn toàn. Chúng ta đang tìm hiểu, dịch thuật, tiếp nhận nhiều cách tiếp cận mới từ những năm 60 trở lại đây của phương Tây. Nhiệm vụ phê bình trở lại với thông lệ của nó với một độ mở mới.
Phê bình văn học có nhiệm vụ đặc thù của nó. Nói chung, bất cứ nền phê bình văn học nào cũng có bốn nhiệm vụ chính phải làm. Phê bình văn học Việt Nam hiện nay nói chung cũng không ngoại lệ. Một là nghiên cứu, miêu tả các thể loại, ngôn ngữ văn học, diễn ngôn đương đại và thế kỉ XX cùng những biến đổi của chúng theo thời gian. Đó là nhiệm vụ mà bất cứ nền phê bình văn học bình thường nào cũng phải làm. Hai là miêu tả, phân tích mối quan hệ giữa văn học đương đại, văn học thế kỉ XX với văn học truyền thống dân tộc cũng như sự ảnh hưởng, sự tiếp nhận văn học nước ngoài để phát triển văn học dân tộc. Không một nền phê bình văn học nào trong bối cảnh như hôm này mà từ chối công việc đó. Ba là sắp xếp, liệt hạng đối với các tác gia, các thế hệ của các nhà văn thế kỉ XX và đặc biệt là nhà văn đương đại. Việc này ít nhất cũng được phản ánh một phần trong các giải thưởng văn học, các giải thưởng nhà nước và giải thưởng Hồ Chí Minh. Vì các lí do tế nhị chúng ta chưa có sự xếp hạng toàn bộ các nhà văn thế kỉ XX, tác giả tại các đô thị miến Nam vùng tạm chiếm. Nhưng chân dung, sáng tác của các nhà văn thì đã được khắc họa, phân tích khá rộng rãi. Bốn là phân biệt và nghiên cứu các xu hướng văn học trong quá trình vận động của một thế kỉ. Văn học Việt Nam hiện đại đang có những khuynh hướng nào, thàh tự mối khuynh hướng ra sao, nhà phê bình không thể không cho người đọc biết. Tác phẩm văn học đương đại ùn ùn như một dòng thác, phê bình không đọc xuể, phải có thời gian, độ lùi mới nhìn kĩ được, nhưng các tên tuổi hàng đầu vẫn được nhận ra. Vấn đề nghiên cứu các khuynh hướng sáng tác vẫn đang là khâu trống, do nhiều lí do khác nhau. Các nhiệm vụ đó đều phải do các nhà phê bình chuyên nghiệp thực hiện, những người không chuyên không ai có thể làm thay được cho họ. Nhiệm vụ này hiện đang gặp khó khăn, các tiêu chí hoặc nặng về chính trị hoặc do có nhiều lí thuyết, khi phát biểu ra sẽ có nhiều ý kiến trái chiều. Nhưng đó là điều tất yếu trong thời hội nhập mà nhà phê bình phải vượt qua. Hiểu như vậy thì chuyên nghiệp và nghiệp dư không thể nào lẫn lộn được. Người nghiệp dư không thể làm được công việc của người chuyên môn, trái lại một khi đã là nhà chuyên môn rồi, họ không thể nghiệp dư hóa trở lại được. Chỉ có các quan điểm nghiệp dư thì mới lẫn lộn hai thứ đó vơi nhau.
Xét theo bốn nhiệm vụ nêu trên thì nói chung phê bình văn học Việt Nam đang làm tốt, chỉ có chất lượng chưa đồng đều. Vấn đề là phê bình chuyên nghiệp cần phải được đánh giá một cách chuyên nghiệp. Ở Việt Nam thường có chuyện người chuyên môn được đánh giá bởi người không chuyên môn. Truyền thống này bắt đầu từ cuôi những năm 40 trong thời chống Pháp, khi khái niệm “quần chúng phê bình” được đề xuất trong các cuộc tranh luận văn học nghệ thuật, nhằm để vô hiệu hóa các nhà chuyên môn. Hiện nay, khi đánh giá phê bình chúng ta thường không căn cứ vào các nhiệm vụ cụ thể, chuyên môn của phê bình văn học, các công việc cụ thể mà phê bình phải làm, mà căn cứ vào các yêu cầu chính trị, nhiệm vụ chính trị, các công thức tư tưởng chung chung thời nào cũng đúng, ai cũng nói được, như phê bình lạc hậu so với sáng tác văn học, lạc hậu so với thực tế đời sống, phê bình sính ngoại… Nội dung các khái niệm này phần nhiều mù mờ, cần phải được thảo luận kĩ lưỡng. Rất khó mà nói phê bình lạc hậu so với sáng tác. Ngay bây giờ mà đánh giá các tác phẩm đầu thế kỉ XX vẫn chưa thể coi là muộn hay lạc hậu, nếu như nhìn theo quan điểm lí thuyết hậu thực dân. Đánh giá một tác phẩm mới ra như Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư theo quan điểm điển hình cũ thì lại rất lạc hậu. Ở đây muốn tránh lạc hậu phải có tư tưởng lí thuyết tiên tiến. Mà các lí thuyết tiên tiến hiện nay chủ yếu đều có nguồn gốc tư sản phương Tây. Các tác phẩm mới ra nhiều khi phải có độ lùi cần thiết mới đánh giá đầy đủ được, như thế, phê bình mà “lạc hậu” so với sáng tác thì lại hợp quy luật, còn tác phẩm vừa ra đời mà đánh giá ngay nhiều khi bất cập, ví như khen thơ của Hoàng Quang Thuận. Chỉ có thể yếu cầu phê bình kịp thời theo nhiệm vụ chính trị mà mỗi kì Đại hội hay mỗi Nghị quyết của Trung ương  mới ra, “đưa nó vào cuộc sống sinh động”, mà làm được như thế thì chỉ có phê bình chính trị mà thôi. Phê bình chuyên nghiệp mà được đánh giá một cách không chuyên nghiệp thì số phận của nó không nói cũng biết rồi. Kết quả đã được biết trước khi đánh giá, thậm chí không nghiên cứu, chỉ nghe một vài dư luận cũng đánh giá được. Hoàn cảnh lịch sử của đất nước đã đổi thay rồi, mà tiêu chí đánh giá phê bình thì không thay đổi kịp. Chúng ta vẫn nói theo ngôn ngữ cũ của thời chiến: “phê bình trực chiến”, “đội ngũ phê bình”, “nhà phê bình là chiến sĩ”, “mặt trận văn nghệ”, “nâng cao tinh thần chiến đấu chống các luận điệu sai trái”…Tại sao nhà phê bình lại nhất thiết là chiến sĩ? Khi đã làm chiến sĩ rồi, liệu có còn là nhà phê bình? Chẳng lẽ chiến tranh kết thúc đã gần 40 năm mà ngôn ngữ phê bình không có sự thay đổi hay sao? Phải chăng vấn đề hiện nay là tiêu chí đánh giá phê bình không theo kịp thực tiễn phê bình? “Phê bình kiểm dịch” vẫn có người thực hiện, và thường xuyên nhận được các giải cao của các cơ quan Đảng và Nhà nước, các cơ quan luôn mở lòng khuyến khích rất hậu, bởi nó đáp ứng nhu cầu của công tác chính trị. Nhưng theo chúng tôi, đó là nhiệm vụ chính trị đặc biệt, không phải là nhiệm vụ chung, bình thường của toàn bộ nền phê bình văn học thời bình của một nền văn học đang có đà phát triển. Nhà nước cần khuyến khích mọi loại hình phê bình chuyên nghiệp. Bởi có như thế thì phê bình chúng ta mới tiến kịp các nước tiên tiến. Cứ theo tiêu chí “tính chiến đấu” của phê bình chính trị mà đánh giá thì nói chung hầu hết những ai làm công tác phê bình văn học bình thường khó lòng được chấp nhận xứng đáng. Thiết nghĩ nên đánh giá nền phê bình văn học của ta theo nhiệm vụ mà bất cứ nền phê bình văn học nào của bất cứ nước nào đều thực hiện đối với nền văn học của họ, như thế sẽ công bằng với nền phê bình văn học hiện nay hơn và thúc đẩy phê bình phát triển.
Phê bình văn học luôn đổi thay theo lịch sử. Nhìn phê bình theo quan điểm lịch sử ta sẽ thấy sự đổi thay các giai đoạn, các hệ hình phê bình khá rõ ràng. Khi giai đoạn lịch sử đã đi qua mà vẫn muốn khuôn phê bình theo yêu cầu cũ thì sẽ trói buộc và hạn chế sự phát triển của phê bình và suy cho cùng cũng hạn chế luôn sự phát triển của bản thân văn học dân tộc.
20 – 7 -  2013.
(nguồn Trần Đình Sử blogs)

Trang tử – “ông tổ ngông“ trong văn học

Trang tử – “ông tổ ngông
trong văn học

       Trang Tử là nhà triết học độc đáo nhất trong bách gia thời Chiến quốc. Trước tác của ông do không nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề đạo đức và chính trị cho nên giàu chất triết học nhất. Cũng do ông phát huy sức mạnh tưởng tượng tài hoa để lý giải các vấn đề trừu tượng, phổ quát mà tác phẩm của ông lại giàu chất nghệ thuật nhất. Với các tính chất đó, Trang Tử đã có ảnh hưởng sâu rộng trong tiến trình văn học Trung Quốc và tác động tới tư tưởng học thuật của các nước lân cận như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam.
Các tác giả lớn không chỉ gây ảnh hưởng bằng tư tưởng, học thuật, mà còn gây ảnh hưởng bằng chính phong cách sống, thái độ sống. Trang Tử đã truyền lại cho đời sau một phong cách ngông, tư thế ngông, trở thành “ông tổ ngông” trong văn học.
     Cách đây chừng chín năm (1990), trong một bài viết về ý thức cá tính trong văn học cổ Việt Nam, chúng tôi đã sơ bộ nhận xét, xem ngông là một biểu hiện cá tính độc đáo thời trung đại. Theo chúng tôi, tài tử không phải là người tài theo quan niệm thông thường, mà là kẻ lấy ngông làm tài, tài thoát ra thói tục, vì vậy mà nó gắn rất chặt với tài tình. Các tác giả nổi tiếng như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Cao  Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Tú Xương, Tản Đà rồi Nguyễn Tuân sau này,…, không ai là không ngông, mỗi người ngông một vẻ. Vậy cội nguồn văn hoá của hình thức cá tính ấy là ở đâu ? Thiết nghĩ, ngoài các nguyên nhân của đời sống văn hoá dân tộc Việt Nam, còn phải tìm đến những mẫu gốc văn hoá xa xưa từ trong triết học Trung Quốc, một nền triết học đã để lại dấu ấn sâu đậm trong văn hoá Đông Á và Việt Nam. Nếu phải tìm ở đó một người tiêu biểu nhất cho tính ngông thì không ai ngoài  Trang Tử.
     Thật vậy, Trang Tử không chỉ là người sống ở thế kỷ IV – III trước Công nguyên, mà còn là người có nhiều hành vi mang tính giai thoại ngông nhất trong bách gia chư tử. “Ngông” người Trung Quốc gọi là “cuồng”. Ba người ngông nổi tiếng đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc có lẽ là Khuất Nguyên, Mạnh Tử, Trang Tử. Mạnh Tử là người cao ngạo tự phụ trong việc khẳng định nhân cách lý tưởng của đạo Nho. Khuất Nguyên quá ư luyến chúa nên khi bị xua đuổi đã cho mình là sạch nhất, tỉnh nhất, rồi phẫn uất tự sát, trở thành kẻ ngu trung đệ nhất trong lịch sử. Trang Tử ngông với lý tưởng “thích chí”, độc lập nhân cách, tự do ngao du trong cõi đạo. Ngông của Trang Tử gắn với ý thức khẳng định con người tự tại, tự do cho nên đã có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong văn học.
     Người ngông đối lập với đám người trung dung, thuận theo lề thói một cách ngoan ngoãn. Người trung dung hay phụ hoạ theo quần thể, phủ nhận tự do cá nhân, người ngông chạy theo cá tính tự do, thích cực đoan. Người trung dung tự rèn luyện để thành tôi trung con hiếu, nghĩa phu tiết phụ, nhưng cũng tạo ra những kẻ a dua, nói theo giả dối. Người ngông coi khinh lễ, phép, ghét tục, ngạo đời, nói năng ngang tàng. Trong thực tế người ngông là kẻ đã làm tan rã các phép tắc giả tạo trói buộc con người, mở ra một luồng gió mát giàu sinh khí. Chính Khổng Tử là người đầu tiên khẳng định ý nghĩa của người ngông (cuồng, quyến). Trong thiên Tử Lộ ông nói : “Cần phải có bọn ngông cuồng. Bọn cuồng thích tiến thủ, bọn tiết tháo biết những việc không nên làm”. Ông hiểu “cuồng” là có ý ương bướng, ngang tàng, phóng đãng. Bọn này tuy có điều đáng ghét song lại có điều đáng quý là biết nêu ra cái mới, cái khác, mà người đời không hiểu, lại gọi là “cuồng”. Trong triết học trung dung con người chỉ biết những việc không nên làm, theo lối cũ,  mà ít có chí tiến thủ, cho nên Khổng Tử mới nghĩ đến bọn ngông. Nhưng trong đám học trò của ông, Tử Lộ, Tăng Tích chỉ là những “tiểu ngông”. Trang Tử mới thực sự là đại ngông.
     Trang Tử có nhiều giai thoại ngông nhất. Trang Tử coi thường lệ tục. Vợ Trang Tử mất, Huệ Thi đến viếng thì thấy Trang Tử đang gõ vò mà ca. Trang Tử sang Sở thấy một bộ xương sọ liền lấy roi ngựa gõ vào xương sọ mà trò chuyện, trái với thái độ tôn trọng người chết của mọi người. Trang Tử khinh miệt và từ chối làm quan. Sở Uy Vương mời Trang Tử làm Tể tướng, Trang Tử từ chối, coi ngôi vị Tể tướng như con bò được cho mặc áo gấm để dắt vào làm lễ tế giao ở Thái miếu. Một lần khác Sở Vương cho người mời Trang Tử làm quan thì Trang Tử khinh chức quan như con rùa khô để thờ. Trang Tử coi thường cái chết. Ông từ chối học trò hậu táng, lấy cớ “Ta có trời đất để làm quan quách, mặt trời mặt trăng là ngọc bích, các tinh tú làm ngọc châu, vạn vật sẽ đưa ma ta… Còn phải thêm gì nữa”. Khi học trò lo xác thầy bị quạ rỉa, Trang Tử nói, chôn dưới đất thì bị sâu bọ đục, có khác gì ! Trang Tử coi đời là một cuộc chơi, vô vi, tiêu dao, tốt cho mọi người, mọi vật. Trong bách gia chư tử, Trang Tử là người nói tới chơi (du) nhiều nhất trong trước tác. Có người thống kê nhận xét : Luận ngữ có 5 chữ “du”, Mạnh Tử 8 chữ, Chu dịch 2 chữ, Hàn Phi Tử 39 chữ, còn Trang Tử có đến 96 chữ “du”, một con số kỷ lục. Hai chữ “tiêu dao” thì hầu như là do Trang Tử sáng tạo, trong chư tử không đâu có. Chơi là một thái độ siêu thoát, tự do, đùa cợt. Ông có thái độ “du thế”  đùa với đời, bên cạnh việc du sơn ngoạn thuỷ, nhưng chính thái độ “du thế” mới là ngông nhất, khiến Trang Tử trở thành ông tổ của quan niệm cợt bỡn nhân sinh. Ngôn ngữ của Trang Tử lại càng ngang tàng. Chính thái độ khinh bỉ cuộc sống xã hội thối nát đã khiến ông ăn nói bộc trực, khác đám người trung dung. Trang Tử mộng hoá thành bướm. Ông nói Trang Chu mộng hoá bướm là đại hạnh, còn bướm mộng hoá thành Trang Chu là bất hạnh, ông dại gì chuốc lấy bất hạnh mà theo giấc mộng của bướm ! Thật là một sự phủ định sảng khoái. Người đời thích sự hữu dụng. Trang Tử lại ca ngợi sự vô dụng, thật là ngược đời !
Trong sách Trang Tử, không chỉ Trang Tử ngông, mà nhân vật của ông cũng ngông. Tống Nguyên Quân cho mời các hoạ sĩ đến vẽ bản đồ. Các hoạ sĩ khác đều đến, vái chào cung kính, mài mực chờ đợi sai phái, chen nhau đứng đầy một sân. Có hoạ sĩ đến sau ra mặt một vái rồi về nhà cởi trần, xoạc cẳng ngồi đợi. Tống Nguyên Quân cho người đi theo dõi và khen : đó mới là hoạ sĩ thật, vì anh ta tự do tự tại, không bị lệ thuộc vào kẻ khác ! Lời đánh giá của Tống Nguyên Quân cũng ngông ! Ông Hồng Mông suốt ngày chỉ chơi như trẻ con. Khi Tướng Vân đến hỏi thì ông khuyên chỉ nên chơi, chớ học gì, chớ tìm biết gì ! Cái đầu lâu của Trang Tử cũng ngông. Khi Trang Tử tỏ ý sẽ xin đắp da thịt cho bộ xương để hắn về nhà thăm lại người thân, thì đầu lâu từ chối : tôi đang sướng như vua, tội gì lại trở về cho khổ !
Ngông của Trang Tử là hình thức siêu quần, xuất chúng, thoát tục nhằm khẳng định một thế giới tự do, tự tại, độc lập, không phụ thuộc vào ngoại vật. Ngoại vật theo ông bao gồm : một nhà sinh mệnh thọ, yểu, bần, phú, quý, tiện, chức quyền ; hai là buồn, vui, giận, hờn ; ba là các tri thức, quan niệm, tư tưởng, lễ tục, khen chê. Các thứ đó đều tạm thời, là kiến thức nhìn qua cái ống, giả tạo và hạn hẹp. Do vậy chỉ có siêu thoát khỏi các thứ đó thì  mới được tự do, tự tại, thích chí ! Cái ngông Trang Tử mang tính nghịch lý : bề ngoài trái thường, trái với lẽ phải thông thường, mà bên trong mở ra một chân trời khác. Nhà triết học Trung Quốc đương đại Lý Trạch Hậu khẳng định : “Cái đạo của Trang Tử không hề là bản thể tự nhiên mà là bản thể người. Ông nâng cao con người với tư cách là bản thể lên tầm cao vũ trụ, cũng tức là nêu lên tính đồng nhất tồn tại trong bản thể người với tồn tại tự nhiên của vũ trụ”. Vậy là cái ngông của Trang Tử hướng tới khẳng định tự nhiên con người nên tinh thần của ông tương tự như tư tưởng hiện sinh, khẳng định tồn tại có trước bản chất, nếu hiểu bản chất là toàn bộ sự quy định của ngoại vật. Cho nên cái ngông của Trang Tử là cái ngông của tinh thần triết học, ngông của trí tuệ, cao siêu, khác hẳn cái ngông của kẻ ngu dốt liều lĩnh. Đó có thể coi là hành động nổi loạn chống lại mọi thứ “vi” tạo tác giả tạo, trái tự nhiên làm cho cuộc sống bị gò bó vô ích. Ngông của Trang Tử là cái ngông giải phóng cá tính, “nhậm tính”, “nhậm tình”, buông thả tình cảm, nhằm dưỡng sinh, thích chí. Nó khác cái ngông của Đông Phương Sóc đời Hán, tuy có vẻ bỡn cợt thời thế, mà chỉ một mực trung thành với triều đình. Trái lại, Trang Tử là người đầu tiên trong lịch sử triết học Trung Quốc nhấn mạnh tới tự do cá nhân, tự giác tìm kiếm tự do, khinh đời, ghét tục, ngạo mạn bất quần. Đương thời Trang Tử rất cô độc, không mấy ai hiểu ông.
Mãi đến khi tư tưởng đại nhất thống sụp đổ vào đời Nguỵ Tấn thì Trang Tử là người được tôn xưng, được nhiều người sùng bái, bắt chước. Kẻ sĩ thời Nguỵ Tấn từ chỗ lo vua, lo nước, chuyển sang lo cho mình, trọng cá nhân, trọng tình cảm, trọng dục vọng, thích làm những hành vi độc đáo, và Trang Tử trở thành tấm gương. Nhưng nếu Trang Tử chú trọng tự do tâm hồn thì người thời Nguỵ Tấn vừa trọng tâm hồn lại vừa quý thân. Nguỵ Văn Đế Tào Phi coi khinh lễ tiết, chuộng tự nhiên. Khi Vương Xán chết, Phi cùng mọi người đến viếng và đề nghị : khi sống Xán thích nghe tiếng lừa kêu, mọi người hãy kêu như lừa để đưa tiễn ông ta. Thế là mọi người đều hý như lừa để tỏ lòng tưởng nhớ ! Đới Chấn thị tài, khinh thói tục. Khi mẹ chết vẫn ăn thịt, uống rượu như thường. Lúc mọi người chất vấn trái lễ, Chấn nói : tôi ăn mà không thấy ngon gì cả thì vẫn có hiếu chứ sao ! Chấn xem lễ tục là ngoại vật. Khổng Dung phủ nhận quan hệ huyết thống tôn ty của Nho giáo. Ông nói con đối với mẹ như vật để trong bình, khi đẻ con là dốc bình để đổ vật ra, thì vật còn có quan hệ gì với bình ! Những lời lẽ “vô đạo” ấy muốn mở rộng cách hiểu, giải phóng tư tưởng ! Trương Hủ nêu cao tư tưởng “nhân sinh quý thích ý”, đã trở thành khẩu hiệu cho nhiều người mà sau này Nguyễn Công Trứ sẽ lặp lại. Lưu Linh chỉ thích rượu say. Nguyễn Tịch lên núi Quảng Vũ Sơn, nhìn chiến trường Hán Sở mà nói : “Thời đại không có anh hùng, khiến bọn nhãi ranh trở thành danh !”. Ông khinh cả Lưu Bang, Hạng Vũ. Khi mẹ chết, Tịch ăn hết một con lợn sữa, uống cạn hai vò rượu, nhưng khi mai táng thì đau đớn khóc đến nỗi thổ huyết ra ! Kê Khang thì “vượt danh giáo mà buông thả tự nhiên”, “chê Khang, Vũ mà coi thường Chu, Khổng”.
     Đến đời Đường thương nghiệp phát triển, khoa cử mở mang đã tạo điều kiện cho cá tính giải phóng. Lý Bạch là nhà thơ có hoài bão lớn, gặp tiểu nhân gây trắc trở, ông đã tỏ ra khí phách ngông ngạo. Ông đã bắt Dương Quốc Trung mài mực, bắt Cao Lực Sĩ cởi giày, lấy rượu làm phương tiện giải thoát. Ông từng có câu thơ ngạo mạn : “Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch – Chỉ hữu ẩm giả lưu kỳ danh”. Đỗ Phủ làm thơ về Lý Bạch lại có câu : “Thiên tử cho gọi chẳng lên thuyền, thưa, thần nhờ rượu đã thành tiên !”. Truyền thuyết nói “Lý Bạch mặc cẩm bào, chơi ở sông Thái Thạch, ngạo mạn tự đắc, không biết có ai, vì say rượu mà ngã xuống sông, bắt ánh trăng mà chết” đã nói lên cái ngông của ông.
     Đến đời Minh, kinh tế hàng hoá càng phát triển, xã hội phong kiến thối nát, kẻ sĩ cấp tiến càng ý thức về sự ngột ngạt, càng có những biểu hiện ngông cuồng. Lý Trác Ngô (Lý Chất) coi khoa cử như đùa, ông đi thi nhại theo thời văn mà làm bài, thế mà cũng đỗ được cái cử nhân, được làm quan đang có cơ lên chức thì tự bỏ quan. Ông có câu nói khác thường : thuở bé bị thầy và gia đình quản lý, làm quan lại bị quan trên quản lý, về quê lại bị quan sở tại và tổ phụ mẫu quản lý. Ông đành bỏ nhà phiêu bạt là thoát khỏi  cái thân bị cai quản ! Ông bất chấp dư luận nhận sự cung phụng của một bà quả phụ, lại viết thư từ bàn về Phật học với một bà quả phụ khác ! Ông công khai đi theo “dị đoan” là Lão và Phật. Ông nói từ Khổng Tử đến nay, vì lấy thị phi của Khổng Tử làm thị phi, cho nên đã không còn thị phi nữa ! Ông tiếp thụ cái buông thả tự nhiên của Trang Tử, tinh thần “chửi tổ, quát Phật” của đạo Thiền, xô đổ thần tượng, tôn thờ cá tính tự do và cũng hấp thụ cái tiến thủ của đạo Nho. Cuối cùng ông đã mượn dao cạo tự tử.
     Kim Thánh Thán càng là một nhân cách ngông ngạo. Ông tự đặt tên mình là Thánh Thán, là lấy câu Khổng Tử “Thán viết” trong Luận ngữ, ngụ ý mình là Khổng Tử. Ông xem khoa cử như đùa. Trong bài thi, trước câu hỏi của đề bài: “Trước tiền bạc, gái đẹp, kẻ trượng phu có động lòng không”, ông viết liền một mạch 39 chữ “động”, ngụ ý “tứ thập nhi bất hoặc”, đến chữ thứ 40 thì không động nữa, giống như Khổng Tử từng nói. Thánh Thán rất thị tài, tự phụ, tự coi là đại tài, coi đời là một cuộc chơi, ông cho là ở đời nên “tận tính”. Tận tính là thế nào? Nghĩa là trời phú cho ta cái tính thế nào thì thể hiện ra bằng hết, thể hiện trọn vẹn, không che đậy, gò bó. Chọn Ly tao, Trang Tử, thơ Đỗ Phủ, Sử ký, Thuỷ hử, Tây sương ký làm “sáu tài tử thư” và bình theo cách riêng của mình để phát triển ưu phẫn, xưa nay chưa từng có, đặc biệt ông còn dám cắt xén tác phẩm, đổi thay chi tiết cho hợp ý mình, tạo thành tác phẩm “của mình”. Thật là tự do phóng túng. Ông trở thành một hiện tượng lớn, độc đáo của phê bình văn học cổ Trung Quốc. Ông bị chết oan dưới lưỡi đao của quan lại nhà Thanh.
     Các hiện tượng ngông ngạo trong lịch sử văn học Trung Quốc còn nhiều, còn có thể kể đến Từ Vị, Cung Tự Trân và nhiều người khác. Tư tưởng của họ đã khác nhiều với Trang Tử, nhưng họ đều yêu mến Trang Tử, chọn hành động siêu quần, khác tục, cao ngạo, khinh đời, đều đề cao tự do tự tại cho con người cá thể, buông thả tình cảm tự nhiên.
     Các nhà thơ văn Việt Nam từ Nguyễn Trãi đã có yếu tố ngông, nhưng phải bước sang giai đoạn phong kiến suy tàn thì nhân cách ngông mới thực sự biểu hiện nhiều mặt.
     Nhà nghiên cứu Liên Xô trước đây Phêlích Kôn trong công trình Đi tìm cái tôi (1984) có nói : “Bất kể là người trung đại ý thức về chính mình như thế nào, thì anh ta vẫn cảm thấy mình là kẻ phụ thuộc ; phụ thuộc vào ai đó hoặc phụ thuộc vào cái gì đó (gia đình, dòng họ, quan địa  phương, đất đai, công xã, giáo phận). Cảm giác phụ thuộc phú cho anh ta một tính xác định xã hội vững bền, nhưng điều đó cũng trói buộc khả năng cá thể và tầm rộng về thế giới quan của anh ta. Người trung đại cảm thấy mình là người đại diện cho ai khác, chứ không phải là chủ thể sống động. Cuối cùng, đối với người trung đại, bất cứ sự khác biệt và đổi thay nào vượt ra thường quy đều là điều không thể chấp nhận”. Đó là một nhận định có phần tuyệt đối hoá. Nếu cứ như thế thì lấy đâu ra hiện tượng Trang Tử? Nhà nghiên cứu A. Ja. Gurevich hiểu một cách khác: “Trở về thời trung đại chúng ta trước hết cần thấy rằng, chính trong thời đại này, khái niệm cá nhân được hình thành một cách trọn vẹn” (Nxb Giáo dục, Hoàng Ngọc Hiến dich, 1996, tr. 321).
     Những tính cách ngông nêu trên rõ ràng là phá vỡ thường quy, thói tục, giải phóng cá tính, làm suy yếu cảm giác phụ thuộc để đưa con người lên ngôi chủ thể. Cho dù cái ngông về sau đã biến hoá thế nào thì vị tổ đầu tiên khơi dòng định lối chính là Trang Tử.
                                                                      1 – 1999  
                                                          (Đạo gia và văn hoá,
NXB Văn hoá Thông tin, H., 2000)
(nguồn blogger Trần 
Đình Sử)

TÁC PHẨM HOA LÁ CÓ TẠO RA TÁC GIẢ ĐẠI NGÀN?

TÁC PHẨM HOA LÁ CÓ TẠO RA TÁC GIẢ ĐẠI NGÀN?

 Nguyễn Hoàng Đức
 3
Sống ở đời ai chẳng muốn vinh danh tên tuổi mình, như phương ngôn “Cọp chết để da, người chết để tiếng”. Bất hạnh lớn nhất của cuộc đời là “vô dấu vết” hoặc là “không có gì vọng lại” gọi tắt là “vô lại”. Vô lại nghĩa là bóng tối soi vào vật tối đã không hề phản xạ lại, trong khi đó một ánh sáng dù rất nhỏ soi vào vật phản quang đã phản xạ lại. Cái gì soi xuống nước đều có bóng của nó, vậy mà tối tăm bất hạnh nhường bao thứ vật nào vô hình đến mức soi xuống nước chẳng có hình?!
Tiếng hô lớn dội vào vách núi sẽ phản lại âm vọng lớn! Đó là điều tất nhiên. Chúng ta nên chấp nhận nguyên lý giản dị này. Như vậy, cách tự nhiên một tiếng hô nhỏ bé dội vào vách núi sẽ vọng lại một thứ u oa ong ong bé tẹo. Và cũng tất nhiên rằng: Nhìn quả sẽ biết cây. Cây tốt không thể ra trái xấu. Cây còi không thể ra trái to. Nhìn tác phẩm hiển nhiên sẽ phản ánh tầm vóc của tác giả. Tác phẩm lớn thì phải ra đời từ tâm hồn lớn. Còn tác phẩm nhỏ, tép riu thì làm sao chứng tỏ cha đẻ của nó là cá voi?

Họ đều là những nhà thơ
Nghệ thuật tiên quyết phải là sự thể hiện ra ngoài thành tác phẩm. Chỉ khi  đó người ta mới có thể đăng ký phát minh hay sáng tạo. Không có nghệ thuật còn ở trong óc, trong tim hay trong bụng. Triết gia Hegel nói rằng: Tự do là giá trị đầu tiên của con người. Nhưng tự do không thể có nếu không được thể chế ra bằng quyền tự do đầu tiên là tự do sở hữu. Tự do đó nói rẳng tôi ít nhất sở hữu thân thể tôi, rồi nhà tôi, của cải của tôi. Vậy thì không thể cách nào chối từ hay biện hộ, tác phẩm dù to hay bé kia lại không phải sản phẩm của chính tâm hồn mình.
Hình ảnh thường thấy của các nhà thơ đông như kiến ở Việt Nam là gì? Là họ đổ xuống từ vài chiếc xe buýt. Hội nghị nào họ cũng có mặt đông rinh ríc, họ biện hộ “chúng tôi là nhà thơ nhưng chúng tôi yêu lý luận, nên chúng tôi muốn đến hội nghị lý luận”, thật giống người Việt bảo đó là cách “tuần chay nào cũng có nước mắt”, không phải đám cháy, mà đám cỗ nào giấy mời cũng lan sang nhà họ. Một tư duy vé kèm, ăn theo, sau lưng luôn có một đàn long tong như vậy, thử hỏi, hội nghị karaoke họ có bảo, chúng tôi yêu ca hát, hội nghị rau sạch, họ bảo chúng tôi yêu rau, hội nghị thịt họ bảo chúng tôi yêu thịt, hội nghị “giá áo túi cơm” họ bảo chúng tôi cũng yêu, hội nghị đóng bàn ghế thì có thể chúng tôi không cần nhưng hội nghị leo ghế thì chúng tôi không thể nào không dự vì đó là nhu cầu tiến bộ của loài người, còn hội nghị ẵm giải thì họ cũng đòi có mặt vì cho rằng đeo huân chương là bản năng của cán bộ… như vậy thử hỏi có hội nghị nào mà họ có thể vắng mặt?
Dân gian có câu “Việt Nam có Đoàn giỏi mà không giỏi”. Có người bình rằng, trời ơi, người giỏi lấy đâu ra một đoàn như vậy, nhà thơ gì mà đi đâu cũng thấy vài xe buýt đổ xuống, kéo vào ngập hội trường? Còn thơ là nghệ thuật tinh hoa ư, sao cả triệu người làm được, từ cô buôn thúng đến bác nông dân, cả anh xe thồ cũng làm ngon ơ?!
Một lần tôi nghe một nhà thơ cán bộ say sưa ca tụng: Trời ơi, về làng đó mới thấy người ta yêu thơ thế nào, các cụ già kéo ra rưng rưng cảm động, nói rằng “chúng tôi chưa bao giờ được trọng thị đến thế!” Nghe thế tôi buồn quá. Trời ạ, có phương ngôn “tuổi già tương lai đã ở phía sau”. Người Việt nói “già được bát canh, trẻ được manh áo mới”. Già không cần áo mới để mặc cho hôm nay và cả ngày mai, mà chỉ cần ăn bữa nay bữa mai không biết thế nào. Một thứ nghệ thuật phải đi tranh thủ người già, tức nghệ thuật mặt trận cho tổ hưu, thì làm sao còn có tương lai???
Tại sao chỉ có câu lạc bộ thơ phường, thơ khóm, thơ làng mà không có câu lạc bộ viết văn của tỉnh? Có phải vì thơ dễ quá không? Câu trả lời thật đã lộ ra quá rõ ràng: thơ hầu hết chỉ dựa trên cảm xúc được chăng hay chớ nên quá dễ làm. Có một nguyên lý làm thơ phổ biến mà chúng ta vẫn thường nghe nói đó là “tức cảnh sinh tình”. Nghĩa là đi đâu, làm việc gì, sinh hoạt ra sao người ta thấy hưng phấn lên thì liền “nặn chứng cá” ra mấy bài thơ.
Kiến trúc được xem là bộ môn nghệ thuật đầu tiên của nhân loại bởi vì nơi ở là nơi cần thiết đầu tiên của con người. Trong Kinh Thánh, Chúa Trời có nói, một người muốn xây dựng nhà, thì trước hết anh ta phải ngồi xuống tính toán, mình có bao nhiêu tiền, có bao nhiêu nguyên vật liệu, có bao nhiêu công thợ… để rồi quyết định tầm vóc của nhà sẽ thế nào tùy vào những gì mình có thể.
Vậy muốn làm việc gì lớn ở đời, người ta đều phải tính toán, dự liệu và vạch dự án. Đó là việc to! Còn làm thơ, ngẩn ngơ ra ao thấy con cá quẫy, xốn xang một lúc khi bạn tình chưa đến, vu vơ bắt được một mùi hương bất chợt, hoặc thấy mây bay xếp hình ngang trời, rồi lá vàng rụng có vẻ xao xuyến… thế là việc to hay bé? Một việc do cảm xúc tức thì mang lại liệu có là việc lớn được không?
Cái mà quốc gia đông nhất thế giới Trung Quốc có là công trình Vạn Lý Trường Thành vĩ đại cả thế giới biết, bởi vì nó dài và rất dài. Nếu nó dài một mét hay chục mét có lẽ chẳng ai để ý?! Sáng tạo bằng cảm xúc tức thì, cũng có nghĩa là vụn vặt thì chẳng bao giờ có tác phẩm hoành tráng cả. Muốn có tác phẩm lớn nhất dứt khoát người ta phải dùng đến lý trí. Thử nhìn xem, Một con cá sau khi bị gắp hết thịt, nó sẽ trơ ra một cái xương sống gắn liền với cái đầu. Tất cả các động vật có xương sống thì đều vậy. Cái đầu là bộ não của hệ lập trình cũng như kiểm soát và ra lệnh, nó được nối với xương sống là trục dọc của hệ thần kinh, từ đó mới tỏa đi các chi thể. Như vậy cơ thể đó đã nói lên nó là một kiến trúc của lý trí. Những động vật thân mềm không có xương sống thì lạc hậu hơn vì chúng không có cột sống để làm quốc lộ thông tin cho bộ não.
Các nhà thơ vụn là thân mềm hay thân cột sống? Hàng nghìn nhà thơ không thể nghĩ ra cốt truyện cũng như nhân vật cho thơ của mình liệu đó có phải bằng chứng cho việc một cấu trúc chỉ có phần mềm không định hình mà không có nổi sự điều hành trục dọc của hệ thần kinh? Rất nhiều nhà thơ, phớt lờ điều kiện mỗi người chỉ đọc một bài, sau khi đọc xong bài thứ nhất liền bảo “tôi xin đọc ba bài”. Đọc xong cả ba bài ngắn tũn vẫn thòm thèm. Tại sao? Trời ơi, thơ chỉ có cảm xúc, không có thông điệp nên đọc bao nhiêu vẫn cảm thấy mình chưa nói gì?!
Tới đây, tôi sẽ bàn đến tài năng và nhân cách của những người sáng tạo bằng cảm xúc tức thì, không rõ nó có đồng nghĩa với “ma cà chớp” không? Mời các bạn xem. Xin cám ơn!
NHĐ  22/07/2013
(Trích từ Blog Bà Đầm Xòe)

Sunday, July 21, 2013

Ảo huyền Yên Tử cho đời hướng tâm

Ảo huyền Yên Tử cho đời hướng tâm

 TRÂN TRÂN

Yên Tử

(NGUYỄN ANH TUẤN)

Mơ màng nửa tỉnh, nửa say
Mở trời Yên Tử mây bay trắng đầu

Cheo leo dốc dựng vực sâu
Gập ghềnh muôn bậc nhuộm màu thời gian
Gió ru rừng trúc óng vàng
Hoa Hiên chùa cổ đã ngàn năm qua

Với tay vén dải ngân hà
Bừng hương linh tỏa trời hoa rộn ràng
Hàng tùng cổ thụ giăng màn
Phiêu du ta chạm linh sàng nước Nam

Dốc lòng đốt nén tâm nhang
Thỉnh lên cõi Phật cầu an muôn đời
Trong làn sương khói chơi vơi
Ảo huyền Yên Tử cho đời hướng tâm.



Địa danh Yên Tử - cái nôi của thiền phái Trúc Lâm trong tâm thức mỗi người dân đất Việt luôn được coi là linh địa, không những bởi vẻ đẹp cảnh quan hùng vĩ của sơn cùng thủy tận điệp trùng, mà còn là nơi gửi gắm, neo giữ tinh thần bất khuất, sáng tạo của tổ tiên, ông cha trong công cuộc trị nước và giữ nước bốn ngàn năm truyền thống dân tộc Việt Nam chống giặc ngoại xâm. Thơ viết về Yên Tử có nhiều, lịch sử văn học đã kịp ghi khắc công lao thế hệ thi nhân của trào lưu Thơ mới đã thành công trong việc thể hiện những xúc cảm riêng có của thế hệ mình về chốn non thiêng với âm hưởng tâm hồn hào sảng, ngập tràn khí phách của lòng tự hào dân tộc như Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Chế Lan Viên (In trong Gương than - NXB Hải Phòng, 2007)…
Xã hội chuyển mình với những bước đột phá của khoa học công nghệ tri thức, cảm xúc sáng tạo khởi nguồn từ chốn non thiêng không vì thế mà giảm đi trong lớp người cầm bút thế hệ trẻ, thế hệ của những con người sinh ra sau chiến tranh, lấy việc sáng tạo thi ca như một sự thể nghiệm nhu cầu bộc lộ tình cảm bản thể, trái lại đã có không ít người dám mạnh dạn khai thác, tái đề cập đề tài tưởng như đã sáo mòn, xưa cũ về non thiêng Yên Tử. Họ không vì các thế hệ đàn anh đi trước đã miệt mài cày xới và phản ánh rất thành công hình bóng non thiêng trong các tác phẩm thơ mà lu mờ ý chí tìm tòi sáng tạo. Chính đặc điểm này đã phản ánh dấu ấn sắc nét về bước đệm nghệ thuật của các tác giả thế hệ trẻ, thi phẩm của họ thể hiện rõ cá tính sáng tạo khi đề cập tới khía cạnh tâm linh vọng từ Yên Tử non thiêng.
Bài thơ Yên Tử của tác giả trẻ Nguyễn Anh Tuấn in trong tập tuyển Những vần thơ giữa hai thế kỷ, NXB Lao Động phát hành năm 2012 dịp kỷ niệm 60 năm thành lập Ngành Xuất bản. Với không gian tâm linh huyền ảo, giàu chất thơ và tính gợi mở đã đưa người đọc đến ngả rẽ bất ngờ của trường liên tưởng, từ đó chiêm nghiệm, đúc rút ra những bài học thú vị về cuộc sống tâm linh: Mơ màng nửa tỉnh, nửa say/ Mở trời Yên Tử mây bay trắng đầu.
Không gian tâm linh bài thơ được mở ra trong một trạng thái xác định, với đầy đủ chiều kích, hướng nhìn cụ thể, đó là không gian của thực tại hiện tồn với chức năng thông báo một hàm lượng thông tin nhất định về mảnh đất địa linh. Vì sao không gian được mở ra? Cái lý do duy nhất để khẳng định sự mở ra nằm trọn trong góc nhìn nghệ thuật của người nghệ sĩ khi đã cảm được đầy đủ ý nghĩa của sự xuất hiện của bản thể trước thiên nhiên, có nghĩa khi sự cảm hoài về cái ta, yếu tố khẳng định con người sẽ hóa nhỏ nhoi, mờ nhạt, dễ bị tạm khuất chìm trước thiên nhiên hùng vĩ: Cheo leo dốc dựng vực sâu/ Gập ghềnh muôn bậc nhuộm màu thời gian/ Gió ru rừng trúc óng vàng/ Hoa Hiên chùa cổ đã ngàn năm qua.
Bản thể bị thu lại, như một đốm sáng nhỏ nhoi trước đại ngàn thâm trầm huyền bí, linh diệu. Sự bất ngờ lớn nhất mang tính nghệ thuật tạo sức căng văn bản và sự bùng nổ cảm xúc sẽ được đẩy lên cấp độ cao khi yếu tố con người được khẳng định lại như một điểm nhấn duy nhất trong bức tranh thiên nhiên vốn đã hùng tráng: Với tay vén dải ngân hà/ Bừng hương linh tỏa trời hoa rộn ràng/ Hàng tùng cổ thụ giăng màn/ Phiêu du ta chạm linh sàng nước Nam.
Mạch thơ đột ngột chuyển nhanh, như dòng nước đang mang mang chảy, đột ngột đổ vào nhánh nhỏ, chợt chảy xiết cuồn cuộn, cảm xúc thơ theo mạch chảy cũng dâng trào. Sự chuyển mạch thơ đột ngột không hẳn đã nằm ngoài ý đồ nghệ thuật của tác giả, mà nó được chuẩn bị từ rất sớm, thậm chí ngay từ dòng thơ đầu tiên “Mơ màng nửa tỉnh, nửa say” cùng thủ pháp sử dụng một loạt các động từ mạnh, tạo sự kiện đột xuất, dồn dập ở độc lập mỗi câu “Với tay vén; Bừng hương linh tỏa; cổ thụ giăng màn; chạm linh sàng”. Đặc biệt là sự ảo hóa các chi tiết thơ cũng góp phần không nhỏ giúp mạch thơ được đẩy tới cao trào của cảm xúc sáng tạo, khẳng định bản lĩnh cùng nội lực thơ tiềm tàng. Chỉ với bốn câu thơ lại nằm ở vị trí giữa bài, bầu không khí tâm linh - hồn cốt của bài thơ đã được khơi thông, tính tư tưởng của bài thơ đã được khẳng định rốt ráo, chi tiết và cặn kẽ với đầy đủ thiên tính nghệ thuật. Các đặc điểm tâm linh riêng có của vùng đất địa linh nguồn cội được đề cập và làm sáng tỏ bằng sức nặng biểu đạt của nhịp điệu ngôn ngữ thơ nhanh, mạnh mẽ và rất khoát, có phần thăng hoa, nhập thiền trong ngôn ngữ cũng được xác quyết trong trọn vẹn khổ thơ này.
Vượt tới đỉnh cao của cảm xúc sáng tạo, khi bản ngã tưởng như đã hoàn toàn tan biến và hòa đồng vào thiên nhiên kỳ vĩ, vào núi non Yên Tử ngùn ngụt khí linh của sự hướng tâm, hướng thiện, vào bản sắc tâm linh mờ ảo của chốn thiêng liêng ngàn đời, qua giây phút hiếm hoi của trạng thái cận tâm linh, hành giả lại trở về với thế giới thực tại, với bản thể trĩu nặng ưu tư của cuộc sống con người thường nhật: Dốc lòng đốt nén tâm nhang/ Thỉnh lên cõi Phật cầu an muôn đời/ Trong làn sương khói chơi vơi/ Ảo huyền Yên Tử cho đời hướng tâm.
Bài thơ khép lại với không gian thơ đẫm tính hướng nội và đậm chất trữ tình tự sự, là không gian của những chiêm nghiệm, trăn trở, day dứt và thức tỉnh bản ngã. Nhờ vậy tính triết luận của khổ thơ cuối và cả bài thơ cũng được hoàn thiện hơn với tầng tầng cảm xúc. Đặc biệt với cấu trúc của hệ thống các động từ được phân bố trong mỗi câu trong các khổ thơ (mở), (nhuộm, ru), (vén; tỏa; giăng; chạm), (dốc, thỉnh) thành ấn tượng cảm xúc nghệ thuật mạnh mẽ, mang mang âm hưởng tâm linh của tiếng chuông mô phỏng, tạo ra cho bài thơ một nhịp điệu riêng có, mặc trầm tựa hương bay khói tỏa. Nhịp điệu ngân vang của bài thơ chắc chắn sẽ còn được cộng hưởng và ngân nga thêm nhiều cấp độ nữa trong lòng bạn đọc yêu thơ, yêu miền non thiêng Yên Tử với Thiền Viện Trúc Lâm thâm trầm ngàn năm ấp ủ một triết lý sống thuần Việt “nhập thế hành đạo”, mà câu kết bài thơ của Nguyễn Anh Tuấn đã gần chạm tới “Ảo huyền Yên Tử cho đời hướng tâm!”.

BÀI THƠ CỰ NGAO ĐỚI SƠN – MỘT DỰ BÁO CHIẾN LƯỢC THIÊN TÀI CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM

BÀI THƠ CỰ NGAO ĐỚI SƠN – MỘT DỰ BÁO CHIẾN LƯỢC THIÊN TÀI CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM

Posted by basamnews on July 20th, 2013
Nguyễn Khắc Mai
NKM: Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm khi được Chúa Nguyễn Hoàng hỏi kế đã nói: “Hoành Sơn nhất đoái, vạn đại dung thân”, theo đó Nhà Nguyễn đã âm thầm và quyết liệt mở mang đất nước để có một Việt Nam trọn vẹn hình chữ S ngày hôm nay. Với Biển Đông, Cụ Trạng cũng có lời tiên tri, dạy rằng: “Biển Đông vạn dặm dang tay giữ / Đất Việt muôn năm vững trị bình”.

Trong Bạch Vân Am Thi Tập của  Nguyễn Bỉnh Khiêm có bài thơ Cự  Ngao Đới Sơn:
Chữ Hán:          鰲   戴  山
                  碧   浸             
                                     
                                     
                                     
                                     
                                     
                                     
                                     
Phiên âm:    Cự ngao đới sơn
                    Bích tẩm tiên sơn triệt để thanh,
                    Cự ngao đới đắc ngọc hồ sinh.
                    Đáo đầu thạch hữu bổ thiên lực,
                    Trước cước trào vô quyển địa thanh.
                    Vạn lý Đông minh quy bả ác,
                    Ức niên Nam cực điện long bình.
                    Ngã kim dục triển phù nguy lực,
                    Vãn khước quan hà cựu đế thành.
Dịch nghĩa:  Con rùa lớn đội núi
Nước biếc ngâm núi tiên trong tận đáy,
Con rùa lớn đội được bầu ngọc mà sinh ra.
Ngoi đầu lên, đá có sức vá trời,
Bấm chân xuống, sóng cuồn cuộn không dội tiếng vào đất.
 Biển Đông vạn dặm đưa về nắm trong bàn tay,
Muôn  năm cõi Nam đặt vững cảnh trị bình.
Ta nay muốn thi thố sức phù nguy,
Lấy lại quan hà, thành xưa của nhà vua.
Xin mạn dịch thơ như sau: Con rùa lớn đội núi
Núi tiên biển biếc nước trong xanh,
Rùa lớn đội lên non nước thành.
Đầu ngẩng trời dư sức vá đá,
Dầm chân đất sóng vỗ an lành.
Biển Đông vạn dặm dang tay giữ,
 Đất Việt muôn năm vững trị bình.
Chí những phù nguy xin gắng sức,
Cõi bờ xưa cũ tổ tiên mình.
Bài thơ có tuổi đã khoảng 500 năm mà bây giờ  càng đọc càng thấy rất “kim nhật kim thì”, rất thời sự. Ta những tưởng như cụ Trạng Trình đang nói với chính chúng ta hôm nay. Bài thơ nguyên là đễ nói cái chí của cụ ”Chí những phù nguy xin gắng sức” ( Ngã kim dục triển phù nguy lực). Nhưng  lại đọng trong đó một tư tưởng chiến lược một dự báo thiên tài:
“BiểnĐông vạn dặm dang tay giữ, /Đất Việt muôn năm vững trị bình”.
(Vạn lý Đông minh quy bả ác / Ức niên Nam cực điện long  bình.”)
Vào những ngày này Biên Đông đang trở thành một trường tranh chấp, quyết liệt đầy tính bá đạo, đai Hán, đầy mưu mô và hành động vừa gian ác, vừa xảo quyệt của nước lớn Trung Hoa, đang trong cơn hưng phát, thèm khát không gian sinh tồn, muốn bá chiếm biển Đông. Nào vạch đường lưỡi bò, nào xây dựng thành phố Tam Sa được tính toán xây dựng trên vùng chủ quyền của người khác, nào gọi thầu những lô thăm dò ngay trên vùng thuộc chủ quyền của Việt Nam. Nào ngang ngược, tàn bạo cắt cáp, rượt bắt tàu thuyền của ngư dân ta đang làm ăn trên vùng biển của nước mình…
Hai câu thơ đầy tính dự báo chiến lược của Nguyễn Bỉnh Khiêm càng lay động từ đáy sâu của ý chí, của tâm hồn cái tâm thức biển đảo của người Việt. Tự ngàn xưa dân Việt đã là cư dân của văn hóa biển-đảo. Vạn dặm biển Đông phải quay về nắm lấy trong bàn tay. Làm được như vậy, mà phải làm được như vậy – làm chủ được biển Đông, thì muôn đời cõi trời, đất nước Nam này sẽ vững vàng trong cảnh thanh bình thịnh trị lớn lao!.
“Biển Đông vạn dặm dang tay giữ /  Đất Việt muôn năm vững trị bình”.
Đó là lời dự báo thiên tài, là lời truyền dạy của tổ tiên. Nó phải được cảm nhận để hành động trên quy mô của Dân tộc.
Nói quay về giữ trong bàn tay có nghĩa là nói sự làm chủ của mình. Chúng ta sẽ và phải làm chủ biển Đông. Tất nhiên không  thể và không phải với một thứ phản văn hóa, nghĩa là cũng muốn làm chủ với tư tưởng bá quyền, độc chiếm. Tinh thần làm chủ của chúng ta là vừa biết kiên quyết bảo vệ chủ quyền hợp pháp của mình, kiên quyết chống lại sự xâm lăng nước lớn. Mà cũng biết tôn trọng chủ quyền hợp pháp của các nước lân bang Đông Nam Á.
Làm chủ Biển Đông, mà tổ tiên đã truyền dặn, ngày nay phải thể hiện cả ba mặt. Thứ nhất là làm chủ những vấn đề về lịch sử, pháp lý, cả những gì liên quan đến sức mạnh vật chất, tinh thần, để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Thứ hai là phải xây dựng một nền kinh tế biển hoàn chỉnh hữu hiệu. Thứ ba là phát triển khoa học và văn hóa biển. Cả ba lĩnh vực trên là ba khâu liên hoàn, làm tiền đề, nhân quả lẫn nhau. Bảo vệ chủ quyền để phát triển kinh tế biển. Muốn phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền hữu hiệu lại phải coi trọng xây dựng các ngành khoa học biển và văn hóa biển. Đó chính là một năng lực mới của Dân tộc để xây dựng và bảo vệ Đất nước.
Điều đáng mừng là  Nhà nước ta cũng đã có phác thảo trên những nét chính về một chiến lược biển Đông với 9 giải pháp lớn như sau:
1. Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của biển đảo đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
2. Xây dựng lực lượng mạnh nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh biển đảo,
3. Đẩy mạnh điếu tra cơ bản và phát triểnkhoa học-công nghệ biển.
4. Triển khai quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội đảm bảo quốc phòng, an ninh.
5. Quản lý nhà nước có hiệu quả hiệu lực đối với các vấn đề liên quan đến biển.
6. Xây dựng đầy đủ, đồng bộ hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư phát triển.
7. Phát triển nguồn nhân lực biển đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội vùng biển đảo và ven biển.
8. Tăng cường công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế về biển.
9. Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh (đi đôi với tạo điều kiện đễ nhân dân than gia giữ chủ quyền, làm kinh tế và xây dựng khoa học, văn hóa biển.)
Đọc lại bài thơ Cự ngao đới sơn với hai câu dự báo chiến lược thiên tài, chúng ta càng khâm phục cụ Trạng Trinh Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bao đời, nhân dân gọi Cụ như vậy vì Cụ sống vào thời Lê-Mạc (1491-1585). Cụ đỗ Trạng nguyên, được phong tước Trình Tuyền hầu. Cụ đã đễ lại một di sản văn hóa đồ sộ, với cả ngàn bài thơ văn với những giá trị nhân văn, đầy chất triết lý, đầy tình yêu nước, thương dân, là một kho Minh triết của muôn đời. Cụ còn là nhà dự báo, tiên tri. Câu “Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân” là lời dự báo không chỉ cho Nguyễn Hoàng, cho Đàng trong mà là cả cho Việt Nam. Về hai chữ Việt Nam, chính Cụ là người đầu tiên dùng để chỉ tên Đất nước, rồi được vua Gia Long dùng làm tên nước chính thức cho đến tận hôm nay.
Câu thơ cuối bài của cụ “Ta nay cũng muốn đem sức phò nguy” chính là nói về chúng ta trong những nhiệm vụ làm chủ biển Đông hôm nay vậy./.

Wednesday, July 17, 2013

KHÔNG NHÂN VẬT THƠ CHỈ LÀ MÌ KHÔNG NGƯỜI LÁI

KHÔNG NHÂN VẬT THƠ CHỈ LÀ MÌ KHÔNG NGƯỜI LÁI

Nguyễn Hoàng Đức
.
“Linh hồn còn quí giá hơn cả vũ trụ này”, đó là một phương ngôn rất nổi tiếng trong Kinh Thánh. Rõ ràng, nếu cả hệ mặt trời này vận động một cách bí nhiệm và diệu kỳ chở mang sự sống, vậy mà nếu nó không có linh hồn sống của Con Người làm cứu cánh cao cả nhất như một ý thức chủ tể bên trong, thì khác nào cả vũ trụ chỉ là vô vị, vô tích sự!
Những xấp giấy trắng vạn vạn tấn ở đời cũng sẽ trở thành vô tích sự nếu nó không được viết lên một dòng chữ nào! Để gói xôi, gói thịt ư, giấy trắng còn thua lá sen, lá chuối.
Vũ trụ là tác phẩm của Tạo Hóa, với Con Người là Cứu cánh, theo Kinh Thánh là hình ảnh của Chúa Trời, đóng vai chủ tể thế giới!
Cuốn sách văn học là tác phẩm của nhà văn, với Nhân Vật là trung tâm. Người đời vẫn nói: Văn là Người! Người cả nghĩa tác giả và nghĩa Nhân vật. Nếu trong tác phẩm có con chó, con mèo, con vịt Đô-nan, hay chuột Mic-ki… thì đó cũng là những nhân vật con người được đặt tên trong vai diễn khác, mà chúng ta vẫn gọi đó là “nhân cách hóa”. Bởi tự thân những con vật không thể nói được tiếng người và hành động như người. Bởi vậy:
Bất cứ cuốn sách nào không có nhân vật thì đó không phải là Tác phẩm Văn học!
Người Hy Lạp cũng như các triết gia của họ xưa đã xác định rành mạnh:
1- Mỗi tối, đàn ông được phát vé đi xem bi kịch. Từ “bi kịch” theo gốc Hy Lạp có nghĩa là “dâng tế – hy sinh”. Các vở bi kịch đều có chuyện, có lớp lang nhân vật, rồi dâng đến cao trào hy sinh để cống hiến một ý nghĩa nào đó cho sự giác ngộ, hành động và tận hiến.
2- Đàn bà và trẻ con chỉ được xem hài kịch, ở đó cũng có nhân vật và kịch tính, nhưng chúng nhẹ nhàng, vui vẻ, chọc cười, thoải mái, và bao giờ cũng về sớm hơn.
3- Thứ ba là loại thấp nhất, những vần thơ vụn, buổi tối không được đọc vì xưa kia không có điện. Các nhà thơ vụn thường đi ban ngày, giống hát xẩm, vừa ngâm vừa ngả mũ xin tiền. Đây là loại thấp nhất, vì không có nhân vật, không có kịch tính, không có dàn nhạc và dàn hợp xướng hỗ trợ, các nhà thơ tự mình ôm đàn ngâm nga rồi ngả mũ ăn xin lòng trắc ẩn. Nhà thơ vụn nói chung còn thua hát xẩm ăn xin, bởi lẽ, hát xẩm là ca nhạc, nó bao gồm cả thơ, lẫn nhạc. trong khi đó với một nhà thơ chưa tập gẩy đàn thì rõ ràng thua hát xẩm. Nhưng thơ với thời chủ nghĩa xã hội đã được ưu tiên hết cỡ. Tại sao? Vì họ là con em của giai cấp nông dân, mới học xong chữ bình dân, khoa học chưa tới, lô-gic cũng chưa, âm nhạc cũng chưa… còn biết làm gì hơn làm thơ. Và trong xã hội ta, rõ ràng thơ đã bay một bước nhảy vọt, từ hát xẩm lên hội trường có micro và văn phòng ban bệ có con dấu và giải thưởng đàng hoàng.
Trong cuốn Thi ca của mình, triết gia Aristote đã chứng minh điều này, theo ông cả vạn nhà thơ đoản ca của Hy Lạp đã ngã gục một cách vô danh, chỉ còn lại Homer cũng là một nhà thơ hát dong, nhưng ông bất tử vì chính ông chứ không có ai khác đã tập đại thành Iliad và Odyssey trong tinh thần Bi kịch, tức nó dài hơi và có nhân vật.
“Con người là một động vật biết dùng phương tiện” đó là một phương ngôn không thể chối cãi. Người ta đấu bóng chuyền, bóng rổ, bóng bàn hay bóng đá… thì đều phải có phương tiện là quả bóng, hay múa vòng, múa dây thì cũng phải có phương tiện… Vậy làm sao một cây bút đòi làm nhà văn khi tác phẩm của mình không có Nhân vật? Có một số người cứ trích vài câu thơ mùi mẫn của mấy nhà thơ Việt, nhưng điều đó vẫn nhỏ bé lắm, chẳng khác nào chưa có lâu đài cứ khoe mấy con sơn, mấy khung cửa, mấy viên gạch… Ở Việt Nam, nguyên lý cũng không khác nguyên lý chung là mấy, cho dù Nguyễn Du chỉ là đi chế tác lại “Truyện Kiều”, nhưng chưa một nhà thơ vụn nào dù hay đến mấy có thể vượt mặt ông. Tại sao? Vì ông đã “bệ” về một lâu đài có nhân vật. Còn ở Trung Quốc, một quốc gia có cả tỉ bài thơ Đường, nhưng Bộ Văn Hóa phải bỏ công mấy chục năm đi tìm một sử thi chỉ vì một câu nói của triết gia Hegel “Trung Quốc không phải là nước lớn vì không có sử thi”.
Nhân vật và cốt chuyện là sự hấp dẫn tự nhiên của văn học. Nhân vật yêu ai, chạy trốn, rồi thoát hiểm thế nào gây rất nhiều hồi hộp ngay cả ở một bộ phim bình thường. Và Phim Truyện hiện nay vẫn là loại hình giá trị nhất của điện ảnh. Tại sao? Bởi vì nó có nhân vật và cốt chuyện.
Người Việt vẫn ví, bát canh thì phải có nước và có cái. Các loại bánh, đặc biệt bánh trưng là bánh dân tộc thì phải có nhân. Một trường ca không có nhân vật khác gì canh không có cái, bánh không có nhân. Và như người Việt thời bao cấp nói “mì không người lái” tức nó không có thịt, chỉ là mì nước xuông. Trường ca mà không có nhân vật khác nào văn học xuông! Thơ thế làm gì chẳng nhạt! Chẳng có người nghe! Chỉ kiếm giá trị bằng cách trao giải, nhưng than ôi cả một hệ thống mậu dịch đồ sộ đâu có cứu vãn được sự nhạt nhẽo nằm trong cốt tủy – là không có nhân vật!
Con đường sắt Thống Nhất đi từ Bắc vào Nam, chúng ta thấy đó là một lập trình không thể thay đổi được. Đó cũng là nguyên ký của nghệ thuật tất yếu của lý trí và kiến tạo. Còn nghệ thuật tùy tiện, chẳng khác nào, đám bán hàng rong, thấy tầu chạy qua thì mang rau quả, bánh trái, nước nôi ra rao bán… cách gì mà mấy mẹt hàng kia dù có trang trí đẹp cỡ nào đòi giá trị hơn cả đoàn tầu được lập trình bằng lý trí. Thơ vụn so với tác phẩm trường ca trọng đại có nhân vật cũng vậy, nó chẳng khác gì mấy mẹt hàng tùy tiện so với cả đoàn tầu.
Trong tác phẩm có nhân vật. Nhân vật sẽ hành động để phát giác tư tưởng. Nhưng nếu chỉ có nhân vật nào đó gãi háng thì đó không phải là hành động mà nó còn thua một con khỉ, bởi vì con khỉ hết gãi bụng, thì gãi đầu, rồi gãi đít… hàng nghìn trường ca của Việt Nam viết không nhân vật, đó là bằng chứng thất bại tuyệt đối của tư duy thơ ca Việt. Nhà văn hóa Chăm, nhà thơ Inrasara có nói: các tác giả Việt chưa đủ trải nghiệm để có nhân vật.
Đây là một phát hiện rất chính xác. Tác giả Việt rất nhiều mưu mẹo, nhưng đó là mưu mẹo để sống, để lèo lái, để leo ghế, và ẵm giải… nhưng họ rất thiếu trách nhiệm trước cuộc sống để có thể sản sinh nhân vật. Nhân vật tất nhiên có xấu, có tốt, có thiện, có ác, có chính, có tà… nhưng than ôi, những con người chưa bao giờ có chính kiến, lúc nào cũng nấp mình trong cái vỏ nước đôi, không dám chịu trách nhiệm về mình, lúc nào cũng sống a dua, bẻo lẻo mấy câu xẩm không đàn, thì làm sao mà có nhân vật?
Từ Hy Lạp qua Trung Quốc đến Việt Nam chúng ta không thể nào quay mặt với thước đo phổ quát: Thơ Việt chưa thể là hài kịch, mà may ra chỉ có tấu hài, càng chưa thể có trường thiên bi kịch. Thơ Việt chỉ là ngâm rong vụn vặn, tức cảnh, tùy tiện bên đường, nay thì lê vào chiếu. Tóm lại rất thấp bé nhẹ cân chẳng có hạng loại nào cả. Nói thế cũng không ngoa, bởi chính các nhà thơ đã phải cùng đánh giá: Việt Nam chỉ có tác phẩm bé và vừa! Chúng ta chỉ là tép riu.
Trong bài viết trước của tôi “Muốn có tác phẩm lớn hãy vứt thơ đi”, “có một bạn đọc nói” đã kỳ công trích dẫn bài “Nobel thơ 2011, nghĩ về thơ Việt”của tác giả Phan Nhiên Hạo, có đoạn: “Thơ Việt hôm nay là thơ quê mùa. Có hai loại nhà quê. Loại thứ nhất là nhà quê trong lũy tre làng: đóng kín, cũ kỹ, ẩm mùi rơm rạ. Đây là loại thơ của phần lớn các nhà thơ hội viên Hội Nhà Văn xuất hiện nhan nhản trên các báo văn nghệ và không văn nghệ trong nước. Loại thứ hai là nhà quê “cách tân”: loại này không làm thơ mà làm công việc độ lại các xe gắn máy nghĩa địa ngoại nhập. Quan tâm duy nhất của loại thứ hai là làm sao bịp được đám đông rằng mình đang cỡi một xe gắn máy thứ xịn. Cũng như mọi thứ trên đời, từ nghề thợ may cho đến chế tạo điện thoại di động, thơ có nhu cầu làm mới. Nhưng điều này phải diễn ra một cách tự nhiên theo sự trải nghiệm đời sống và kiến thức văn chương mà nhà thơ tích lũy được qua thời gian. Cái mới trong thơ là quá trình kết tủa, không phải chụp bắt” (hết trích).
Cám ơn bạn đọc này, và xin mượn cách nói của tác giả Phan Nhiên Hạo, thơ Việt ngày nay chỉ là một bát canh quê mùa chỉ có nước xuông ê a tùy tiện cảm xúc mà không có “cái” vì nó chẳng có tư tưởng gì đáng kể.
NHĐ 16/07/2013
(Bài trích từ NTT blog)

Hemingway – ông già râu trên biển cả chữ nghĩa

NHÂN KỶ NIỆM 194 NĂM NGÀY SINH VĂN HÀO HEMINWAY 21-7-1899 ĐẾN 21-7-2013:
Trần Mạnh Hảo 

Hemingway lao vào cuộc đời như một võ sĩ đấm box lao ra trường đấu. Mà quả thực, có lúc, ông nhà văn kỳ lạ này thuở đầu đời đang trên tàu biển sang châu Âu cùng người vợ thứ nhất Hadley, đã tổ chức một trận đấu quyền anh, tự mình lao ra làm đấu sĩ để lấy ít francs giúp đỡ một cô gái bị bỏ rơi. Lúc đã thành danh, có khi ông thỉnh thoảng nổi máu yêng hùng, còn nhảy phóc ra từ bàn nhậu, phanh áo khoe bộ ngực lông lá đầy nam tính rồi thách đấu một tên chó chết nào đó, hoặc đấm những cú trời giáng vào khoảng không cảnh cáo thế gian, hoặc ghi vào mặt thằng cha nào đám xúc phạm ông một vài vết bầm tím gọi là… nhớ đời.
Hemingway cuồn cuộn và ào ạt như sông Mississippi hồng hộc sóng gió, hồng hộc thở ra biển tất cả nguồn cơn vừa phô bày, vừa bí ẩn của nước Mỹ. Có khi ông dàn trải đời mình thành mênh mông như thảo nguyên Chicago ngựa chạy gãy chân không thấu. Có khi ông đùn đẩy đời mình lên thành gò đống, chót vót như đỉnh núi Kilimanjaro, mượn linh hồn con báo mà chết muôn đời trên đỉnh tuyết mây trời vọng tưởng. Cái gì của Hemingway cũng tột cùng. Hemingway tán gái. Hemingway đấm bốc. Hemingway túy ông. Hemingway mê cuồng với đấu trường bò tót. Hemingway săn tê giác và sư tử Phi châu. Hemingway lao sùng sục ra biển Cuba câu cá kiếm. Hemingway viết văn. Hemingway vong thân. Hemingway dấn thân. Hemingway lôn luôn coi Fidel Castro là thần tượng và là bạn thân thiết của nhà cách mạng Cuba này. Hemingway mê mẩn nước Mỹ và ngán nước Mỹ tới tận cổ. Hemingway lẩn thẩn với hư vô… Một cuộc đời 62 tuổi như ông, dù có chia ra hàng chục cuộc đời khác cũng đều mãnh liệt và cùng tận hết mình. Có thể nói, Hemingway – một nhà văn rất Mỹ, từ cuộc đời đến tác phẩm chính là hình ảnh của nước Mỹ thu nhỏ, của một nước Mỹ đam mê và rồ dại, kiêu hùng và bi lụy, tự do và trầm cảm, chếnh choáng và hư vô…
Cùng với Chúa Trời, bò tót, sư tử, cá kiếm, năm người đàn bà có tên và không tên khác đã nhào nặn nên thể xác và tâm hồn Hemingway. Đầu tiên là Grace Hall – mẹ ông, một người đàn bà Anh mắt xanh xinh đẹp, cao lớn, tươi tắn và nồng nàn như bình nguyên nước Mỹ, một giáo viên dạy nhạc tại North Oak Park đã truyền vào ông cả tâm hồn nghệ sĩ đầy mơ mộng, lúc nào cũng bàng bạc như sương và véo von như chim chóc. Cha ông – Ed Hemingway, một bác sĩ y khoa cao lớn, đẹp trai, một tay chơi mê câu cá, mê săn bắn đã “câu” được người phụ nữ âm nhạc này ngay trong trường trung học.
Khi Ernest vừa sinh ra, mẹ ông đã viết vào nhật ký những dòng như lời tiên tri về về đứa con trai ngỗ ngược và thiên tài sau này như sau: “Các con chim cổ đỏ hót những bài ca ngọt ngào nhất để chào mừng người viễn khách tí hon đến với thế giới xinh đẹp này”. Quả thật, Ernest suốt đời là viễn khách trên quê hương mình, là viễn khách của thế giới, viễn khách của những người đàn bà chết mê chết mệt vì ông, viễn khách trong chính bản thân mình, viễn khách của cái chết và hư vô. Cũng quả thật, cái nhìn của người mẹ đã xuyên suốt cuộc đời ái tình sôi nổi như bão giông sấm chớp của người con trai khi tiên đoán về “Các con chim cổ đỏ” châu tuần quanh người đàn ông cao lớn tới gần hai thước, ngực rộng, vai to, râu hùm hàm én, đẹp trai và chịu chơi vào loại nhất nước Mỹ này.
Một con chim cổ đỏ, mỏ đỏ đầu tiên mà Ernest vồ được khi chàng nằm điều dưỡng do bị thương ở chân tại Milan (Italy) năm 1918, lúc mới 19 tuổi là nàng điều dưỡng viên Agnes Hannah Von Kurowsky – hơn chàng gần 10 tuổi. Trong 18 cô điều dưỡng viên đến từ Mỹ xinh như mộng, Ernest đã chọn nàng Agnes Hannah lớn tuổi nhất đám, một nàng xinh tươi, tóc nâu sẫm, có mắc liếc đa tình và khóe cười lúng liếng có thể làm nghiêng lệch cả cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất. Chàng Ernest lao vào mối tình đầu như con sư tử Phi châu lao vào con sơn dương. Anh chị yêu nhau tưởng có thể sập bệnh xá Croce Rossa Americana đóng tại Milan vẫn còn nằm trong tầm đại bác của quân Áo. Hemingway trong đêm tối chiến tranh nóng nực, dám dũng cảm một mình lao lên cõng một thương binh đang hấp hối người Italy giữa trận tiền và đã hưởng trọn một tràng súng máy của quân Áo vào cẳng chân, khiến cả hai cùng gục xuống trong vũng máu. Chuyện dám hy sinh cứu đồng đội này đã đưa chàng trai trẻ Mỹ từ địa ngục chiến tranh đến với thiên đường có tên là Agnes Hannah tóc nâu sẫm kiều diễm như quà tặng mỹ miều của số phận.
Tình yêu trong chiến tranh phải chia lìa vội vã. Chàng phải về Mỹ vì bị thương đi cà nhắc. Còn nàng ở lại Milan tiếp tục băng bó vết thương thể xác và tâm hồn cho những chiến binh thoát chết khác, những Ernest khác. Về Mỹ ngày nào Ernest cũng viết một lá thư cho người tình Hannah nhưng chẳng có hồi âm. Hóa ra, Agnes Hannah đã quên chàng Ernest bé bỏng miệng còn thơm mùi sữa để đú đởn với một tên sĩ quan người Italy đa tình chết tiệt nào đấy. Ernest thất tình như rồ dại. Chàng nguyền rủa nàng – vị nữ thánh của mối tình đầu chính ra chàng phải tôn thờ mãi mãi thì lại đi hận nàng hơn hận quân Áo tí nữa đã xơi tái một cẳng chân mình. Lần đầu tiên yêu và lần đầu tiên bị phản bội, Ernest đã nếm chén đắng của sự thất tình.
Ernest đã thề giết chết Agnes Hannah trong tâm hồn mình để rồi làm cho nàng thành bất tử trong một cái tên khác là Catherine Barkley – nhân vật nữ chính trong cuốn tiểu thuyết đã đưa ông lên hàng những văn hào lớn nhất nước Mỹ và thế giới: “Giã từ vũ khí” xuất bản năm 1929. Hemingway hóa thân vào nhân vật Federic Henry để làm sống dậy cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, mối tình thứ nhất, nước Italy thứ nhất, sự rồ dại và đam mê thứ nhất của đời ông và của nhân loại. Tình yêu đẹp tới mức phi lý của Henry và cô y tá Catherine hiện lên lồng lộng như là sự phản đề của cuộc chém giết tàn khốc có tên là chiến tranh. Catherine cuối cùng đã không chết ở chiến hào mà chết bởi tạc đạn tình yêu: chết trong cuộc sinh nở.
Thế mà năm 1932, Hemingway điên tiết lên, đã toan tìm đấm vỡ mõm gã đạo diễn để cho Catherine không chết trong phim “Giã từ vũ khí”, trái với cái chết của nàng trong tiểu thuyết. Catherine đã chết bởi tình yêu. Nhưng tình yêu này bởi chiến tranh mà sinh ra. Chúng ta có thể “Giã từ được vũ khí” nhưng không thể nào giã từ được tình yêu và nỗi chết. Suốt cuộc đời cuồng nhiệt sống và cuồng nhiệt viết của mình, Hemingway đã bị tình yêu và cái chết, bị những người đàn bà và sư tử Phi châu giằng xé về hai phía thiên đường và địa ngục. Cuốn tiểu thuyết “Mặt trời vẫn mọc” ra mắt năm 1926 của ông là tiếng thở dài của nước Mỹ, là mùi xú uế của cả một thế hệ bị chiến tranh bài tiết ra thành những hòn sống, những cục sống đi lang thang khắp châu Âu và Bắc Mỹ như những hồn ma.
Sau thời kỳ vong thân, sau cú thất thần mất hết hồn vía của thế chiến thứ nhất, trước hiểm họa phát xít xuất hiện đe dọa nhân loại, Hemingway tỉnh thức, chợt như nhảy bổ ra từ chai rượu, nhảy bổ ra từ các cuộc câu cá, đi săn để sang Tây Ban Nha tham gia binh đoàn quốc tế bảo vệ nền Cộng hòa non trẻ, chống lại nhà độc tài Franco. Tiểu thuyết “Chuông nguyện hồn ai” xuất bản năm 1940 là bài ca bi thương nơi cuộc dấn thân của một nhân loại mới ngây thơ và tốt lành, một nhân loại dám xé ngực mình, lấy trái tim làm vũ khí tiêu diệt cái ác. Hemingway đã khoác một y phục khác, một cái tên khác là chàng Robert Jordan, một chiến sĩ tình nguyện người Mỹ đã đến Tây Ban Nha để chiến đấu bảo vệ nền Cộng hòa.
Trong tận cùng chết chóc, nước Tây Ban Nha hiện lên qua hình ảnh nàng du kích Maria, một thánh nữ đồng trinh của chiến tranh. Tình yêu của Jordan với Maria là tình yêu của một dấn thân này với một bơ vơ khác, là nghẹn ngào tỏ tình cùng nức nở. Tình yêu nào của văn chương Hemingway chừng như cũng là tình yêu của vết thương, tình yêu soi mình trong chiều sâu hút của một cái giếng trong suốt là nỗi chết. “Chết trong chiều nắng tà”, cuốn tiểu thuyết ra mắt năm 1932 của Hemingway đã đưa nước Tây Ban Nha trưng ra với thế giới ở một gương mặt khác với nghi lễ thiêng liêng của thuật đấu bò. Đây là một tiểu thuyết bên ngoài tưởng sục sôi, tưởng gào thét điên dại vì việc đấu bò tót; nhưng thực ra đây là tiểu thuyết luận đề, Hemingway bàn về cái chết, một cái chết có vẻ ma thuật và kỳ bí như chính Tây Ban Nha mà suốt đời ngoảnh lại, nhà văn còn thảng thốt đến ngẩn ngơ.
Hemingway bị ba con vật: bò tót, sư tử, cá kiếm rình ông từ ba góc của một tam giác quỷ – đời sống; hệt như năm người đàn bà ông yêu từ Agnes Hannah đến bốn bà vợ của bốn thời kỳ kéo ông ra thành sợi dây thun của hoan lạc và đầy ải. Bốn “triều đại” nữ hoàng trị vì trên tâm hồn và chiếc giường của ông từ “triều” hoàng kim Hadley, qua Pauline, tới Martha rồi Mary Welsh và dừng lại “ở triều” thứ năm – triều đại của hư vô và chấm hết là khẩu súng săn shotgun. May mà trước khi đi tìm con báo trên đỉnh núi tuyết, Hemingway đã kịp ném linh hồn xuống biển Cuba để sinh ra kiệt tác “Ngư ông và biển cả”. Cuốn truyện vừa này lần đầu được in trọn trên tờ Life và bán được 5 triệu bản trong vòng 48 tiếng đồng hồ để đạt được giải thưởng Pulitzer và giải Nobel năm 1954.
Qua kiệt tác này, mới biết người khổng lồ của văn học phương Tây, một nhà văn Mỹ nhất lại mang một tâm hồn phương Đông, rất Phật và rất Lão Trang vậy. Ông già Santiago này chính là một tên gọi khác của Hemingway đã một mình lênh đênh trên chiếc thuyền câu đơn độc, suốt ba ngày đêm bị con cá kiếm vĩ đại mà ông vừa câu được lôi đi vào muôn trùng biển cả, đến nỗi tưởng như chính con cá kiếm kia đã câu được ông già. Cuộc vật lộn trong ba ngày chết đi sống lại kia của lão Santiago chính là cuộc vật lộn của ông già râu Hemingway suốt một đời lênh đênh và cô đơn tới cùng tận trên biển cả chữ nghĩa.
Con cá kiếm nặng tới sáu, bảy tấn, dài và lớn hơn chính chiếc thuyền câu, một sinh vật mạnh và đẹp đến mê cuồng của biển cả khiến chợt nhìn thấy nó, lão Santiago đã rợn da gà vì choáng ngợp. Qua nhân vật Santiago, khi con cá kiếm ngoài hành tinh đến cắn câu, chừng như ông già râu Hemingway đã ngó thấy hư vô, hay chính từ phút đó, hư vô đã câu được ông già và lôi đi tới đầu mút của thế giới văn học? Đằng sau con cá kiếm – linh hồn biển cả kia, ông lão kép Santiago – Hemingway này chừng như nhìn thấy tất cả đàn bà trên thế giới hợp lại và lôi ông đi vào siêu hình tình yêu, siêu hình sự chết.
Không, cuộc chiến đấu vĩ đại giữa một nhân loại cô đơn, bé nhỏ, yếu ớt và một thiên nhiên gầm thét, hung tợn tới vô cùng qua bàn tay rách nát và thân thể rớm máu vì cuộc giằng co sống chết của lão Santiago với con cá kiếm, Hemingway, nhà nhân đạo chủ nghĩa đã mang tới một thông điệp: “Con người không được sinh ra để chịu thất bại. Một con người có thể bị hủy diệt nhưng không bị đánh bại”. Khi chỉ còn cách cái chết một gang tay, nhờ sức mạnh “không bị đánh bại” ấy, trong rốn thẳm tuyệt vọng, lão Santiago đã phóng ngọn lao cuối cùng của thế giới và giết được hung thần cá kiếm.
Chính là dòng suối máu của con khủng long này phun ra biển cả đã mời gọi hàng đàn cá mập kéo tới. Chỉ trong nháy mắt, bọn Pônpốt-Iêngxari này của biển cả đã chén sạch sành sanh thành quả sống chết của ngư ông. Cuối cùng, lão Santiago kéo lên bờ một bộ xương cá kiếm vĩ đại nhất thế giới – một bộ xương của siêu hình tôn giáo.
Vâng, chính là đàn cá mập nada (hư vô – tiếng Tây Ban Nha Hemingway hay dùng) được biển cả phái tới Ketchum, sáng chủ nhật ngày 2/7/1961 đã “vồ” được đại văn hào bằng khẩu súng săn hai nòng shotgun. Chính từ khẩu súng này, Hemingway từng săn được voi, sư tử, tê giác, báo và thú rừng Phi châu. Lần cuối cùng, ông đã săn được chính bản thân mình bằng một phát đạn tự bắn vào đầu.
Không có gì giết nổi con người này kể cả chiến tranh, cả bệnh viêm gan vì rượu, cả hai lần rớt máy bay và nhiều lần bị tai nạn xe hơi – trừ chính bản thân ông. Một lần nữa, Hemingway lại lên đường đi câu con cá kiếm của Chúa Trời ở bên kia thế giới. Ông đã bị hư vô vồ mất và lôi đi trên biển cả chữ nghĩa tới muôn đời. Trước đó, Hemingway đã vồ được vĩnh cửu; hệt như con báo Phi châu đã vồ được đỉnh núi tuyết Kilimanjaro, tìm được “Một nơi sạch sẽ và sáng sủa” nhất thế gian để chết và để cứu rỗi sự vĩnh hằng của cái đẹp đang bị thế giới trần tục này săn đuổi…
Bài trích từ NTT blog