Wednesday, March 13, 2019




VŨ THÀNH AN  - NGÀY VỀ TRONG ƠN CỨU RỖI 
       Truyện Ký: Lê Viết Hòa (Lê Vân)

Khi chúng ta đang chuẩn bị cho những ngày cuối năm để đón tết Âm lịch cổ truyền, thì ở tận đất nước Tanzania (châu Phi) xa xôi, có một Người lặng thầm làm theo sứ vụ mà Ơn trên giao phó; Mang hơi ấm tình người trải khắp muôn nơi.
Tấm lòng bác ái của Ông gần 15 năm qua vẫn diễn ra không tô vẽ, không đánh bóng; nó được thực hiện đúng mục đích nhân văn theo ý chỉ của Thiên Chúa: đem Yêu Thương kết nối Thương Yêu.
Đã trải qua quá nhiều thăng trầm của cuộc sống; Đã chịu đựng tận cùng của những va đập mà đời giáng xuống, và cũng từ đó mà nhận được ân sủng của Thượng đế cứu rỗi.
Ông đã vượt qua từng giai đoạn nghịch cảnh của số phận để giữ cho mình một tâm thế bình thản giữa mọi biến đổi của dòng đời. Sự tận hiến của Ông cho Giáo Hội là điều đương nhiên, vì Ông được nhậm chức Phó Tế (một chức vụ trong Thiên Chúa giáo, trợ giúp cho Cha của một Giáo xứ) Điều đọng lại và sống mãi trong lòng của những người có cảnh đời bất hạnh, những đứa trẻ mồ côi không nơi nương tựa, chính là tấm lòng tha nhân của Ông.
Sáng lập ra Ngôi nhà TERESA ở Huế làm nơi kết nối, nuôi dưỡng. Ông đã trực tiếp làm giảm đi một phần khó khăn, cực khổ của những người già neo đơn; Ông đã trực tiếp cứu vớt, nuôi dạy những đứa trẻ "cù bơ cù bất" có một mái nhà đúng nghĩa, có được sự học hành tử tế để không là gánh nặng cho xã hội.
Chúng ta hãy tưởng tượng, trong mùa đông lạnh giá, mưa dầm của Huế, những cụ già không con ngồi run rẩy trên chiếc giường vạt tre với một tấm chăn mỏng. Thân thể gầy còm, đôi môi nhợt nhạt và mắt nhìn vô hồn về phía cửa phên trống hoác. Những đứa trẻ vô gia cư với manh áo mỏng, răng đánh lập cập đứng nép mình bên hiên cửa nhà ai đó. Chắc chắn chúng ta khi nhìn thấy, ai không động lòng trắc ẩn; nhưng chúng ta có thể làm gì hơn, cũng chỉ biết chắc lưỡi thương hại rồi bỏ đi. Chẳng ai trách...vì ai cũng phải lo cho đời sống của mình, của gia đình mình.
Những người già neo đơn nghèo khổ vẫn sống qua ngày đoạn tháng cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay trong cô độc; Còn những đứa trẻ, chúng sẽ đi về đâu... Không có câu trả lời xác định.
Tôi nhớ về một đứa trẻ 8 tuổi trên một con hẻm đường Đào Tấn, Tp Huế. Câu chuyện cũng đã xảy ra cách đây gần 5 năm. Khi đó tôi đang hành nghề Y trên con hẻm nhỏ, nơi những căn nhà cấp định cư cho những người dân vạn chài. Khu đất này nguyên trước kia là bãi tha ma. Nhiều người nói đùa, đường Đào Tấn là đường đào mả. Đường chật hẹp, nhà chen chúc nhà.
Không phải ai trong số dân vạn chài cũng có tiền để xay cho mình căn nhà cấp 4 tươm tất. Thôi đó cũng thường tình tùy hoàn cảnh mỗi gia đình. Thoát khỏi cảnh sống lênh đênh trên sông nước đã là một may mắn cho họ.
Chiều hôm đó, sau khi chữa xong cho một người bị viêm khớp gối, tôi nghe tiếng ồn ào từ đầu xóm vọng lại. Người tổ trưởng dân phố vừa vận động vừa kể vắn tắt cái chết thương tâm của cháu bé. Cha bệnh tật, mẹ mắc chứng tâm thần, cháu bé được người chị gái có gia đình đem về nuôi. Oái oăm thay, cháu lại trở thành công cụ kiếm tiền cho thằng anh rể đốn mạt.
Hàng ngày, cháu bé được chở tới những con đường có nhiều quán ăn, quán cà phê. Trên tay là xấp vé số và một khay kẹo Chewing Gum. Đi bán từ quán này sang quán khác, trưa thằng anh rể tới thu tiền và đưa cho một ổ bánh mì. Cháu bé lại tiếp tục bán cho đến tối mịt mới được chở về.
Một bữa, cơn mưa dầm không dứt từ sáng đến quá trưa. Cháu bé đói lã không nhấc nổi chân. Thằng anh rể chưa tới, có lẽ mưa nên nó ngại đi. Một người khách trong quán thấy tội, ngoắc lại. Kêu cho nó một tô bún. Nó ngó dáo dác xung quanh rồi mới ngồi xuống. Nó ăn vội vã rồi đứng dậy. Chưa kịp nói lời cảm ơn, mặt nó bỗng xanh tái. Ánh mắt nó đứng hình về phía bên kia đường... thằng anh rể.
Giám định pháp y kết luận: Cháu bé chết vì bị vật cứng đánh mạnh vào đầu. Người mẹ vẫn ngây ngô bên xác con. Người cha vật vờ bên quan tài lạnh lẽo. Trời vẫn đổ cơn mưa không dứt.
Thằng anh rể bị bắt, truy tố và lãnh án tù 18 năm vì tội giết người. Kẻ thủ ác phải đền tội, đó là lẽ tất nhiên; nhưng cái đọng lại là nỗi đau xót cho những người có lương tri. Giá như... không thể có mọi điều hoàn hảo trong xã hội ngày càng coi trọng giá trị vật chất; khó tìm kiếm đạo lý trong một xã hội mà mọi người tự đánh mất niềm tin vào nhau. Nguyên nhân sâu xa từ đâu, vì đâu. Mọi người đi tìm câu giải đáp và chọn cách sống của riêng mình.
Ừ thì giá như...!
Không ai có thể dang tay ôm hết những mảnh đời bất hạnh; không ai có thể trải lòng mình cho những đau xót thế nhân. Nhưng trong lòng tôi vẫn luôn dâng lên một niềm quý mến và kính phục những con Người, những tấm lòng vàng không vụ lợi, không vì mục đích cá nhân, chỉ với một tâm niệm: CHO ĐI LÀ NHẬN LẠI.
Tôi với Ông quen biết nhau là một sự ngẫu nhiên, một sự ngẫu nhiên có sắp đặt của Thượng đế. Nếu như không tình cờ gặp anh Lê Quý (người thay mặt Ông điều hành Ngôi nhà TERESA ở Huế) trong một lần ngồi quán "cóc" ven bờ sông Hương.
Dù đã qua tuổi "...lai hy", với những “Tình Khúc Không Tên” nổi tiếng trong suốt những năm 60-70 của thế kỷ trước và cho đến bây giờ. Những Tình Khúc Không Tên với giai điệu nhẹ nhàng, sâu lắng, gắn bó một cách chân tình với một tình yêu thương con người, một tình yêu thương "một bóng hồng" cụ thể trong từng ca khúc mà Ông sáng tác. Và nó đi sâu vào lòng người mặc cho thời gian trôi qua.
Trong những Tình Khúc của Ông, cuộc đời con người, hay cụ thể là trong tình yêu, ai cũng trải qua nhiều đau khổ vì sự tan vỡ, chia ly và mất mát. Nhưng không vì vậy mà bi lụy, mà đánh mất niềm tin yêu vào cuộc sống. "Con người phải vượt qua những sự đau khổ trong tình yêu để đứng lên, vươn lên, đem lại cho mình mục đích sống nhân văn hơn; Ngõ hầu đem lại cho đời, cho người mình thương những điều tốt đẹp nhất".
Có lẽ vì vậy, sau này, khi trong giai đoạn cơ cực nhất, khốn cùng nhất, Ông đã nhận được Hồng Ân của Thiên Chúa, được MẶC KHẢI bởi Đấng Toàn Năng để thực hiện mục đích nhân bản của Người được chọn.
Như có lần ông đã tâm sự: Huế là nơi để lại cho ông rất nhiều cảm xúc. Không hẳn là quê hương thứ hai sau khi rời bỏ quê Cha đất Mẹ (Hải Hậu, Nam Định) để vào Nam. Với Ông, Huế gắn bó một thời trai trẻ, những rung động đầu đời, và nơi đó với dòng sông Hương mềm mại uốn lượn chảy qua cổ thành, với những tà áo tím nhẹ nhàng, tha thướt qua mấy nhịp cầu Tràng Tiền bên nớ, bên ni là nguồn cảm hứng sáng tác bất tận của Ông.
Có thể nói Huế với Ông như mái ấm tình thương, như nơi chốn để Ông thả hồn vào những Bài Không Tên của những tình yêu đớn đau và khắc khoải nhưng cũng đầy vị ngọt ngào.
Tình yêu là có khổ đau và hạnh phúc. Trong hạnh phúc đã mường tượng mầm chia phôi. Cái quan trọng là cách nhìn và tâm thế để đón nhận. Cuộc đời của mỗi người mỗi số phận, mỗi quan niệm, mỗi cách sống khác nhau. Có ra đi cũng có khi trở về... Ai cũng có nguồn cội, ai cũng có mục đích sống cho riêng mình.
Sự trở về của Ông với Huế năm 2003 sau mười hai năm định cư ở Mỹ được coi là bước ngoặt để xác định con đường mà Ông đã chọn. Sống cho tha nhân trong quãng đời còn lại của mình.
Ông đã vận động và xin phép Tòa Giám mục địa phận Huế để thành lập Ngôi Nhà Têresa, mục đích như phần trên đã nói. Căn nhà nằm trên đường Trần Phú, gần Nhà Thờ Chính Tòa Phủ Cam của Ông trở thành đìa chỉ của tình thương yêu, chia sẻ với bất cứ ai có hoàn cảnh khó khăn, cơ khổ.
Không dừng lại ở đó. Vượt qua muôn vàn khó khăn từ phía Giáo Hội, Chính quyền và cả những người hoài nghi cho mục đích của Ông, Cộng Đồng TERESA ở các Tỉnh, Thành được Ông gầy dựng, phát triển và tài trợ cả về vật chất lẫn tinh thần.
Tình thương yêu và tinh thần bác ái luôn được lan tỏa trong trái tim của những người chân thiện. Mọi tính toán vị kỷ, tị hiềm không có chỗ đứng cho lòng nhân ái, cho Tình Thương kết nối Tình Thương.
Lời Chúa dạy mỗi người chúng ta hãy cầu Phúc, Bình an cho chính mình và cho những người khác. Đó chính là sự thấu hiểu, sẻ chia yêu thương giữa người với người. Có sự thấu hiểu, sẻ chia mới xóa bỏ hận thù, xóa bỏ những tranh giành dục vọng thấp hèn để cùng hướng tới những điều tốt đẹp trong cuộc sống.
Lời Phật dạy: "buông dao đồ tể sẽ thành Phật" không đơn giản là những sự việc xảy ra trước mắt. Nó chính là sự báo ứng, gieo nhân nào gặt quả ấy. Chỉ khi chúng ta minh định và hiểu rõ lời dạy sâu xa của Đức Phật về Luật Nhân Quả, thì chúng ta mới có thể hướng cuộc sống của chúng ta vào con đường CHÂN - THIỆN - MỸ. Và chúng ta mới trân quý hơn những tấm lòng vàng; vì chính Họ đã làm, khơi dậy tiềm năng mang tính Thiện trong mỗi chúng ta.
Có rất nhiều tấm lòng Bác Ái, có rất nhiều tổ chức Từ Thiện, loại trừ mục đích lợi dụng của những kẻ bĩ ổi, vẫn còn đó cho chúng ta niềm tin yêu từ những con Người cao thượng, những con Người hiểu rõ sự sinh tồn trong đời này là cõi tạm. Những cái có được, như: danh vọng, tiền bạc cũng chỉ là phù du. (Trong một bài viết khác, tôi sẽ đề cập đến một nhà Doang nghiệp trẻ, thành lập Nhóm Từ Thiện lấy tên là: THIỆN TÂM HÀ NỘI).
Có những Con Người họ làm công việc bác ái của mình một cách âm thầm, lặng lẽ; Không phô trương, không quảng bá. Điều họ mong và cầu nguyện là giảm bớt một phần khó khăn, cực khổ của những người dân nghèo trong xã hội hiện nay. Cần và trân quý những tấm lòng vàng như thế.
Xin lỗi Anh, Thầy Phó Tế, Nhạc sĩ Vũ Thành An (Người sáng lập Gia đình Cộng đồng TERESA) vì câu chuyện tôi viết mà chưa được phép của Anh.
Sống ở đời, đã là con người ai không từng vấp ngã, ai không từng phạm lỗi lầm. Mỗi con người là mỗi cá thể mang bản sắc riêng, nhưng có một điểm chung nhất là tiếng oe oe chào đời và sự ngây thơ, trong sáng, hồn nhiên ở tuổi chập chững tập đi. Và khi đã nhận thức được cuộc sống xung quanh, có ý thức trước mỗi sự việc, hiện tượng diễn ra hàng ngày, tức là con người đã tự mình chịu trách nhiệm những việc mình làm, định hướng cho mình con đường để đi.
Con đường đi đó đúng hay sai, tốt hay xấu, tất nhiên phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Một phần do nhận thức tự thân; một phần khác, vô cùng quan trọng, đó chính là: nền tảng của gia đình, sự giáo dục của xã hội nói chung và môi trường sống nói riêng.
Số phận mỗi người mỗi khác, không ai giống ai. Nhiều khi chỉ một biến cố bất thường xảy ra đã làm thay đổi số phận. Có người vượt lên, hoàn thiện mình, trở thành người có ích cho xã hội; lại có người ngã gục, lún sâu vào con đường tội lỗi. Theo Phân Tâm Học của S. Freud, trong tính cách của con người đều có hai mặt: thiện - ác, tốt - xấu. Tùy khả năng tự kềm chế mình của mỗi người cao hay thấp, mà mặt này, mặt kia nỗi trội.
Lời Chúa dạy khi còn truyền giảng Đạo Trời ở dương thế: "Hãy để con trẻ đến cùng ta, đừng ngăn cản chúng. Vì nước Đức Chúa Trời thuộc về những người giống như những đứa trẻ đó.".
Vì sao Chúa lại dạy như vậy. Hàm ý sâu xa trong lời dạy này chính là sự trong sạch, chưa phạm tội của trẻ thơ. Và, phàm làm việc gì, hãy cân nhắc trong chừng mực nhất định.
Nếu xét theo lẽ thường tình, khi đến một độ tuổi nào đó, có đầy đủ tất cả mọi thứ mà nhiều người khác mơ ước: danh vọng, tiền tài, cuộc sống ấm êm no đủ, con người ta sẽ xếp lại mọi chuyện, hưởng một cuộc sống an nhàn, không lo không nghĩ. Chẳng ai trách, cũng không ai ghen tị về điều đó.
Nhưng, với Ông lại khác. Chúa đã chọn và ông nhận hồng ân đó khi cuộc đời lâm vào cảnh cùng khốn nhất. Sự thức tỉnh và hiểu được kiếp người phải trải qua nhiều kiếp nạn giúp cho Ông đứng vững và vượt qua. Mười năm trong trại cải tạo như một giấc mộng dài, trong đó đủ các cung bậc cảm xúc, chủ yếu là bi quan, yếm thế. Thật khó để diễn tả tất cả, và cũng khó để quên tất cả nếu không có phép lạ.
1981, có lẽ là những ngày tháng trọng đại nhất trong cuộc đời của Ông. Sau một đêm thức dậy ở một trại cải tạo nằm sâu hun hút trong một cánh rừng vùng Son Tây, Ông nghe có tiếng thầm thỉ của Chúa, mặc khải bức màn đen tối hận thù trong lòng Ông. Ánh sáng của Chúa soi rọi và mở ra trong Ông một con đường tươi sáng. Phép bí tích đã gột rửa mọi tội lỗi để ban ơn sủng của Đức Chúa Trời đến với Ông trong ngày 21 tháng 03 năm này. Ông cảm thấy lòng mình bình an và cảm nhận sức mạnh tinh thần từ Chúa ban cho để thanh thản đón nhận mọi thăng trầm của cuộc sống.
Không phải ai cũng được chọn, không phải ai cũng được mặc khải. Xưa, Thánh Tông đồ Gioan Phaolô, một người thu thuế ba lần được Chúa hiển linh, và Ngài đã được chọn, trở thành một vị Thánh trụ cột của Ki tô giáo thuở nguyên sơ.
Mọi sự so sánh đều khập khiễng. Nhắc đến vị Thánh này để nói rằng, chỉ những người trải qua những dâu bể cuộc đời mới thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc đến lòng bác ái, bao dung của Đấng mình chịu ơn và cũng từ đó, mới xác quyết con đường Sự Vụ để trang trải niềm bao dung, bác ái đó đến cho mọi người.
1991, Ông đặt chân đến nước Mỹ. Điều làm Ông xúc động khi đích thân Bà Đặng Tuyết Mai (vợ Ông Nguyễn Cao Kỳ) và rất nhiều Văn Nghệ sĩ hải ngoại như: Phạm Duy, Trầm Tử Thiêng, Thanh Thúy, Ý Lan đã mở tiệc chiêu đãi, đón mừng Ông tại Cali.
Là một di dân theo gia đình vào Nam từ miền quê Hải Hậu, Nam Định năm một ngàn chín trăm năm mươi tư. Nghĩ cũng lạ, đa phần những người di cư thời điểm đó chủ yếu là người Công giáo, theo hai Đức Cha Phạm Ngọc Chi (Giáo xứ Phát Diệm) và Lê Hữu Từ (Giáo xứ Bùi Chu) vào Nam để tránh bài thị tôn giáo và chính trị. Có lẽ nào gia đình Ông lại thuộc về hai mươi phần trăm theo đạo Phật và đạo Tin Lành.
Sở dĩ tôi lấy làm lạ vì những năm tháng học Tú Tài, và Đại học, Ông đã được sự đỡ đầu của Linh mục Trần Đức Huynh, Giám đốc trường Hưng Đạo nhận về cho dạy lớp đệ thất (lớp 6 bây giờ) để có tiền ăn học. Tức là ít nhiều Ông và gia đình là người có Đạo, nhưng sao mãi đến ngày hai mươi mốt tháng ba năm một ngàn chín trăm tám mươi mốt Ông mới được rửa tội.
Phải chăng, tất cả đều có sự sắp xếp của Đấng tối cao, con người không thể khiên cưỡng. Tất cả đều đúng thời điểm và đủ Duyên để trọn vẹn con đường xây dựng một lý tưởng sống theo sứ vụ thiêng liêng.
Tôi đã từng nhận xét, nhạc của Vũ Thành An đi theo một dòng riêng biệt, tạo nên tên tuổi của Ông với những Tình khúc Không Tên nổi tiếng được nhiều người yêu thích từ thập niên 60 thế kỷ trước và cho đến tận bây giờ. Ông cùng với Trịnh Công Sơn, Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng, Lê Uyên Phương.v.v. tạo ra một làn sóng mới trong âm nhạc Việt Nam thời kỳ đó. Lời nhạc của Ông rất chọn lọc về ý tứ, ngôn từ. Trong nhạc của Ông tuy có đau buồn về mất mát, chia ly, nhưng luôn chứa đựng tấm chân tình và sự bao dung, không hận thù, không oán trách. Đó chính là tình yêu con Người, yêu cuộc sống mà Ông muốn gởi gắm vào Âm nhạc.
Sự đổi thay tư tưởng bắt đầu từ đêm "mặc khải". Những bản nhạc Thánh ca được Ông sáng tác trong giai đoạn một ngàn chín trăm tám mươi mốt cho đến gần đây như một sự bày tỏ tâm hồn vượt qua những bi lụy cuộc đời để đón nhận ánh sáng Chúa Ba Ngôi. Tìm cho mình một con đường đi như đã hứa nguyện.
Năm 1995, sau năm năm định cư ở Mỹ, Ông ghi danh học Cao học Thần Học tại Tổng Giáo phận Portland-Oregon. Bỏ qua những hư danh, bỏ qua những phù phiếm cuộc đời, Ông lặng tìm cho mình một hướng đi mới. Không phải bỏ qua quá khứ, mà từ quá khứ để học hỏi, chiêm nghiệm và thấu hiểu lẽ nhân sinh.
Nếu như Trịnh Công Sơn là tìm kiếm sự giải thoát trong sự nhân quả của triết thuyết nhà Phật; Thì với Vũ Thành An, sự giải thoát con Người phải qua những việc làm cụ thể.
Mỗi cá thể người sinh ra trong thế gian này không vô cớ tồn tại và mất đi. Người hiền kẻ ác, thánh nhân thường nhân, người điên kẻ tỉnh...đều là hai mặt soi chiếu cuộc đời cho nhau. Sự phản tỉnh tùy theo ý thức, mức độ nhìn nhận và trên hết là cái Tâm hướng thiện theo đúng nghĩa của nó.
Đức Phật nhìn thấy trong cõi vô cùng sa số những sinh linh và mỗi satna sự biến đổi liên tục hằng hà của vũ trụ tác động đến tâm thế của con người. Đức Phật nói: " Ai đến với ta mà không hiểu ta là phỉ báng ta ". Tức là sự giác ngộ cái thiện lương không chỉ là niềm tin mà phải trải qua những chiêm nghiệm, dấn thân và thực hành để tìm ra con đường chánh đạo.
Chúa Giêsu lại dạy: "Phước cho những ai không nhìn thấy mà tin". Giữa dòng đời nhiều xáo động, thật giả lộng chân; niềm tin của con người dần cạn kiệt. Lời dạy đó như hướng con người trở về với thuở nguyên khai chưa tạo nhiều tội lỗi. Lời của Chúa không phải là sự tin tưởng mù quáng, nó là lời dạy để con người xích lại gần nhau hơn, thấu hiểu và cảm thông cho nhau nhằm đạt đến sự tương thích, yêu thương nhau.
Trên mỗi bước đường đi của mỗi người, ai không từng đau khổ, ai không từng bi quan đến mức tuyệt vọng. Chỉ có một sức mạnh vô hình, một niềm tin tuyệt đối với con người, với cuộc đời mới giúp cho con người đứng vững và tồn tại. Lắm người gục ngã sa vào con đường tội lỗi vì không có điểm tựa, không có niềm tin vào những điều tốt đẹp. Nói đúng hơn sự sa ngã đó xuất phát từ tính ích kỷ, chỉ nghĩ đến bản thân. Nguồn gốc của cái ác chính là đó.
Sự thức tỉnh đúng lúc của con người không bao giờ là muộn, giống như Người trộm lành trong Kinh Phúc Âm của Thánh Luca, người bị đóng đinh cùng Chúa Jesus trên Đồi Sọ. Trong khi tên tướng cướp kia ra sức nhạo báng dè bỉu về Đấng cứu thế, thì người trộm lành lại nghĩ khác.
- Chúng ta đã nhúng tay vào tội ác, hình phạt dành cho chúng ta không có gì bàn cãi. Còn Người này, Ông ta có tội gì?
Người trộm lành nói với Chúa:
- Xin Ngài nhớ đến tôi khi về nước Thiên đường!
Chúa nghiêng đầu về phía người trộm lành rồi nói:
- Lời của ông đã được chứng nhận. Hôm nay ông sẽ ở cùng tôi trên thiên đàng.
Chân trời mới rộng mở thênh thang cho những ai hồi tâm hướng thiện. Người trộm lành, sau này được đặt tên là Thánh Dismas chính là tấm gương sáng cho sự hồi tâm chuyển ý.
Có một chi tiết rất quan trọng nhưng ít người để ý. Tượng Chúa bị đóng đinh trên thập tự giá, đầu của Ngài luôn nghiêng về bên phải, đó là phía người trộm lành. Nó giống như một minh định Chúa luôn lắng nghe lời cầu nguyện của con người, Chúa luôn hướng về lẽ phải và chỉ có lẽ phải mới giúp cho con người bình an giữa những bất công, hiểm họa của cuộc đời.
Trong chừng mực nào đó, với danh tiếng sẵn có, những điều kiện thuận lợi trong giới âm nhạc Việt Nam ở hải ngoại, Vũ Thành An thừa sức để sống một cuộc sống an nhàn, hưởng thụ. Chúng ta nhớ rằng, thời điểm Ông ghi danh học cao học Thần Học, tuổi của Ông đã khá cao, năm mươi hai tuổi (Ông sinh năm một ngàn chín trăm bốn mươi ba).
Những gãy đổ trong tình yêu đã để lại cho Ông những vết thương lòng mà chỉ có âm nhạc mới giúp cho Ông lắng dịu và quên đi sự đau khổ. Tình Khúc Thứ Nhất phổ thơ Nguyễn Đình Toàn được Ông sáng tác năm một ngàn chín trăm sáu mươi lăm ngay lập tức được mọi người đón nhận, tên tuổi của Ông nổi lên từ đó, và ngày càng được nhiều người hâm mộ qua các “Tình Khúc Không Tên”.
Trải qua nhiều công việc, chức vụ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa: Thầy giáo, phóng viên, trưởng một bộ phận của truyền thông Đài phát thanh VNCN đủ để Ông tích lũy những trải nghiệm trong cuộc sống.  Nhưng cái bi kịch lớn nhất, cũng là Hồng Ân lớn nhất cuộc đời Ông chính là những năm tháng học tập cải tạo sau Một ngàn chín trăm bảy mươi lăm.
Không ai không biết sự khắc nghiệt,  của chế độ nhà tù mới đối với những người từng tham gia vào chính quyền Sài Gòn, nhất là giới trí thức lúc bấy giờ. Ngoài sự thiếu thốn về vật chất, phải tham gia lao chân tay, những người bị cải tạo còn phải  học tập những chính sách, nghị quyết và hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa hàng ngày. Một không khí nghi kỵ, dè chừng lẫn nhau được tạo ra trong môi trường gần như cách ly với thế giới bên ngoài.
Lời hứa hẹn học tập cải tạo vài ba tháng chỉ là lời hứa suông. Nhiều người bỏ xác ở một khu rừng nào đó, có người được cho về với tấm thân tàn ma dại theo đúng nghĩa cả tinh thần và thể xác.
Tục ngữ có câu: "Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại" để nói thời gian bị giam cầm dài đăng đẳng vì bị quản thúc, mất tự do. Mười năm, một đoạn đời đầy oan trái, thị phi, gia đình gãy đổ. Nhưng cũng nhờ đó cho Ông hiểu được lẽ đời, cho Ông nhận ra chân giá trị thật của cuộc sống. Một điểm dừng, suy gẫm và khai sáng để bao dung hơn, vị tha hơn và bình tâm hơn trước những biến thiên, nghịch cảnh.
Không ít " lời ong tiếng ve " cho quyết định ghi danh Cao hoc Thần Học của Ông. Thường người ta chỉ suy diễn theo một chiều, theo lẽ thường tình mà số đông người nhận thức. Những điều đó không làm cho Ông nhụt chí. Nó càng khiến cho Ông quyết tâm hơn, vững tin hơn trên con đường dấn thân vào Sứ Vụ.
Sau quá trình dưỡng Tâm, học hỏi miệt mài giáo lý, 1999, Ông được phong chức Đọc Sách (Reader) và Thừa Tác Viên Bàn Thờ (Acolyte). 2002 ông được phong chức Phó Tế Vĩnh Viễn. Đây là một sự chứng nhận khích lệ của Tổng Giáo phận Portland-Oregon cho những nỗ lực không hề mệt mỏi của Ông. Một bước đệm quan trọng giúp cho Ông thực hiện Sứ Vụ bác ái sau này.
Trong suốt thời gian gần hai mươi năm, Vũ Thành An gần như không còn sáng tác những bản tình ca. Ông muốn gác lại quá khứ để toàn tâm toàn ý cho công việc của nhà thờ và Chủng viện. Những bài Thánh ca Ông viết nhằm tôn vinh Thiên Chúa, ý nghĩa cao đẹp của Ơn cứu rỗi được ra đời trong khoảng thời gian này.
Như có lần Ông đã nói: "Cuộc đời như đại lộ không đèn". Thênh thang đấy, rộng lớn đấy; tưởng chừng đi như thê ́ nào cũng được, tất cả đều về một hướng. Cái sai lầm, lạc lối của chúng ta đều bắt đầu từ những suy nghĩ giản đơn như vậy. Trong câu nói của Ông hàm chứa một triết lý sống nhân văn. Hãy chọn cho mình con đường để đi trong bóng tối của cuộc đời.
Có những kẻ, họ chỉ luôn nhìn thấy vết dơ trên mặt người khác, họ không bao giờ xem lại khuôn mặt mình đầy những vết ố đen. Họ luôn bới móc, đặt điều, vu vạ cho người khác và lấy đó làm hả hê, vui thích. Tội nghiệp họ, vì đó chính là sự lệch lạc về nhân cách, sự thấp hèn trong lối sống ích kỷ, ganh tị.
Có người nói, sao tôi không khai thác thời kỳ mười năm Vũ Thành An học tập cải tạo. Để làm gì, những đồn thổi vô căn cứ đôi lúc chỉ phục vụ cho một mục đích nào đó nhằm chia rẻ những người từng làm việc cho chế độ Sài Gòn, nhất là những người làm công tác truyền thông chiêu hồi như Ông.
Chúng ta cần nhìn nhận sự việc một cách khách quan và thực tế, bỏ qua những ý nghĩ chủ quan nhằm mục đích tạo sự lôi cuốn và hấp dẫn người đọc ưa thích scandal. Trên quan điểm đó, tôi cho rằng không nhất thiết phải đi sâu về đời tư của Vũ Thành An. Vì với tôi, một thế hệ sinh sau đẻ muộn chỉ mong muốn đi tìm một chân lý sống thông qua những con người có tấm lòng vàng, những con người thật sự sống cho tha nhân.
Cũng cần nói thêm, trước khi có duyên kết hợp sáng tác giữa Thơ của tôi và Nhạc Vũ Thành An, tôi chỉ biết Ông là tác giả của 10 Bài Không Tên, tất cả chỉ có vậy. Một lời bình vu vơ của tôi về một bài hát mang giai điệu Bolero của Ông đã mở đầu cho một tình bạn vong niên bất kể tuổi tác, khoảng cách địa lý và vị trí xã hội.
Tình Khúc Không Tên 84. Một Thời Theo Gió Đuổi Mây (Tình Khúc Thứ Nhất trong tổng số 12 Nhạc phẩm kết hợp sáng tác giữa Thơ Lê Viết Hòa và Nhạc Vũ Thành An) là sự tương tác, giao cảm của hai tâm hồn đồng điệu, cùng chung một tấm lòng yêu thương tha thiết vùng đất Cố đô Huế. Trong lời đề tựa cho Tình Khúc này, Vũ Thành An đã gởi tặng những người đã và đang yêu mến nhạc của Ông, đồng thời gởi tặng con người và cảnh sắc Huế, nơi Ông luôn coi như là quê hương thứ hai của mình.
Gốc là người Huế, nhưng tôi chỉ sống ở đây những năm đầu khi mới sinh ra, không nhiều lắm kỷ niệm thời thơ ấu. Nhưng trong lòng tôi, cái thần hồn của Huế, lời ru của mẹ năm xưa luôn thắm đượm và tan chảy qua từng năm tháng cuộc đời. Tập Thơ DẠ KHÚC CỘI NGUỒN (Nhà XB Hội Nhà Văn 2018) như là một tâm tình của tôi dành cho nơi chôn nhau cắt rốn.
Người ta thường nói đến lương duyên, tôi tin vào điều đó. Cái lương duyên để tôi và nhạc sĩ Vũ Thành An biết nhau, cảm mến và trân trọng nhau trong mối giao tiếp của hai tâm hồn đồng điệu. Nói như một người bạn, Trần Xuân Đạt (Trần Tộc) Giám đốc Cty Truyền thông Văn Chương MEDIA: "Thơ tạo nguồn cảm hứng cho Nhạc, Nhạc nâng cánh cho Thơ bay cao" để nhắc đến những sáng tác chung của tôi và Nhạc sĩ Vũ Thành An trong thời gian gần đây.
Đó cũng là điều kiện để cho tôi tiếp xúc với những người thân cận của Ông mỗi khi có dịp ra Huế. Ở ngôi nhà TERESA nằm trong một con kiệt (hẽm) đường Trần Phú, nơi mà căn nhà của Ông trở thành điểm kết nối những tấm lòng yêu thương, bác ái. Anh Lê Quý, người thừa hành được Ông tin tưởng giao phó mọi hoạt động của Cộng đồng TERESA Huế nói:
-Khi Thầy An thành lập Ngôi nhà TERESA để bảo trợ người già neo đơn và nuôi dưỡng trẻ em cơ nhỡ, nhiều người nghi ngờ thiện tâm của Thầy. Có rất nhiều rào cản từ mọi phía, kể cả người thân trong gia đình Thầy. Nếu là người khác, họ sẽ dễ bỏ cuộc vì quá nhiêu khê. Cảm thấy thương và kính phục Thầy trong khoảng thời gian đó. Vừa đệ trình lên Tòa Giám Mục để được chấp thuận, vừa xin phép Chính quyền, lại vừa xây dựng và nâng cấp ngôi nhà cũ để phù hợp với mục đích sử dụng. Tiền bạc là một chuyện, nhưng sự lao tâm khổ tứ mới là điều đáng nói.
Tôi nhìn ngôi nhà bốn tầng với tấm bảng to ghi dòng chữ: GIA ĐÌNH TERESA. Tưởng chừng bình thường như những ngôi nhà khác. Có biết đâu, để có được cái tên của Thánh Nữ Chúa Hài Đồng, Vũ Thành An đã mất gần tám năm để gầy dựng và sáng lập. Niềm vui đến với Ông khi nhậm chức Phó Tế năm 2002 là một, thì niềm vui nhân lên gấp mười lần khi Gia Đình Thánh Teresa Hài Đồng Chúa Jesus (THE FAMILY OF SAINT THERESA OF THE CHILD JESUS) được cố Tổng Giám Mục giáo phận Portland-Oregon, John G. Vlazny dâng lễ Đại Trào chính thức công bố nghị định công nhận. Thánh lễ được diễn ra vào lúc 10 giờ, thứ bảy, ngày 06 tháng 03 năm 2010 tại Giáo xứ Our Lady of Sorrows.
Rất nhiều Linh mục, Thầy Phó Tế và Giáo dân đủ các sắc tộc, màu da cùng đến chúc mừng sự kiện này.
Trong một lần trao đổi với nhau về bản quyền sáng tác, Nhạc sĩ Vũ Thành An nói với tôi:
- Mọi danh tiếng, tiền tài rồi cũng sẽ qua đi nếu như không nghĩ và chăm lo cho đời sống mai sau. Ngay như Tổng Thống Mỹ hiện nay, D. TRUMP nếu không biết kính sợ Chúa, không yêu thương con người, thì mọi việc làm Ông ấy cũng trở nên vô nghĩa.
 Tôi nhìn lại mình, thấy mình quá nhỏ bé giữa cuộc đời vô hạn. Không phải là tham lam, không phải là ích kỷ chỉ biết lợi cho mình. Với tư cách là Thầy Thuốc, tôi cũng sống và làm việc theo lương tâm của mình. Ai nghèo khó thì chữa giúp, ai có tiền thì trả đúng giá trị căn bệnh. Nhưng để vượt thoát ra những suy nghĩ đời thường, bản thân tôi cảm thấy mình chưa đủ.
Khi đứng trước tượng của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác ở Viện Đông Y Huế năm 2003, tôi tự hứa nguyện trong lòng mình, sau cái chết của Mẹ tôi vì mắc chứng ung thư đại tràng di căn rằng, tôi sẽ cố gắng học hỏi, tích lũy kiến thức, kinh nghiệm và hành nghề Y theo phương châm: tất cả cho bệnh nhân. Làm sao để giảm thiểu chi phí, thời gian nhưng hiệu quả đạt được cao nhất. Ước nguyện là một chuyện, khả năng con người giới hạn. Hơn mười lăm năm qua, vẫn chưa hoàn thiện phương pháp điều trị; nhưng dù sao, tôi cũng không phải hổ thẹn với lương tâm.
Khi nhạc sĩ Vũ Thành An đề nghị với tôi những tình khúc viết chung giữa tôi với Ông, nếu phát hành đĩa CD có lợi nhuận, thì tiền tác quyền sẽ làm thiện nguyện. Dù chưa phải giàu có, nhưng tôi hoàn toàn ủng hộ đề nghị của Ông, coi như mình có một chút đóng góp nhằm giảm bớt khó khăn cho những người kém may mắn hơn mình.
Trong lòng tôi, vẫn luôn cảm ơn Đấng bề trên cho tôi được có duyên biết Vũ Thành An, để hiểu rõ giá trị thực con người không phải là những phù du, mộng ảo. Cuộc đời người tồn tại hay không tồn tại là ở tấm lòng với chính mình và với mọi người.
"Vì sao tôi luôn mỉm cười, vì sao tôi luôn cảm thấy bình an. Mặc dù cuộc đời không phải lúc nào cũng êm ả. Tôi đã phải cật lực làm việc, có khi một ngày hơn mười tiếng. Mười mấy năm, tôi không dành cho mình một kỳ nghỉ lễ, không dành cho mình một chuyến đi du lịch cá nhân. Tôi phải vượt qua sức ì của tuổi tác, vượt qua tiếng đời thị phi để thực hiện ước vọng của mình. Vì tôi tin, sau lưng mình có Chúa che chở". Lời Vũ Thành An tâm sự khi Ông đến tuổi nghỉ hưu trong Giáo vụ.
Tôi tin những lời tâm sự của Ông là thật. Vì tôi nhìn thấy những đứa trẻ được Ông nuôi dưỡng từ những ngày đầu thành lập Gia đình TERESA lớn lên, trưởng thành, có học vấn và tỏa đi làm việc khắp nơi nhưng không bao giờ quên mái ấm tình thương và tấm lòng của những người nuôi dưỡng chúng.
Tôi nhìn thấy những đứa trẻ đang độ tuổi niên thiếu hiện nay lại đang tiếp tục được chăm sóc, lo lắng từng miếng ăn, giấc ngủ và sự học cho tương lai về sau.
Tôi nhìn thấy nụ cười biết ơn trên khuôn mặt đầy vết nhăn nheo của những người neo đơn, cơ khổ được nhận những món quà thiết thực cho đời sống của họ thông qua các chương trình bác ái của Cộng Đoàn TERESA khắp cả nước.
Chừng đó thôi cũng đã thấy tấm lòng yêu thương của Vũ Thành An đối với con người, đối với xã hội.
Một hành động, một việc làm mang ý nghĩa nhân văn cũng khiến cho ta xúc động; huống chi đây là cả một chương trình mang tính nhân bản cho hiện tại và cả tương lai. Mọi lời nói đều vô nghĩa nếu không đi đôi với việc làm. Và trong Sứ Vụ cao cả này của Vũ Thành An, tôi cho rằng, nó đứng trên hết, vượt trên hết những suy tính cá nhân, những lợi ích cá nhân để con người xích lại gần nhau hơn, yêu thương và có trách nhiệm với nhau nhiều hơn.
Hẵn mọi người cũng như tôi đều thắc mắc sao Vũ Thành An lại đặt tên Thánh TERESA Hài Đồng Chúa Jesus cho Cộng Đồng bác ái do mình sáng lập. Điều đó mang ý nghĩa gì trong cách đặt tên của Ông. Tính hiếu kỳ khiến tôi tìm vào trang tiểu sử của vị Thánh được mệnh danh là "Bông hồng nhỏ của Chúa Jesus" này.
Tôi lướt qua dòng lý lịch và bắt gặp những dòng trích hồi ký nhẹ nhàng nhưng đầy tin cậy: "Tình yêu phải tự nó chứng minh bằng việc làm, em chứng minh tình yêu của em bằng cách nào?...Em có thể chứng minh tình yêu của em bằng cách rải những bông hoa; nghĩa là, không để buông trôi một sự hy sinh nhỏ nhoi nào, một ánh mắt nhìn nào, một lời nói nào; bằng cách làm điều tốt trong những hành động nhỏ nhất, bằng việc làm những điều ấy vì tình yêu".
Và tôi chợt hiểu, có lẽ Gia Đình Thánh Teresa Hài Đồng Chúa Jesus xuất phát từ tình yêu thương con người, từ những điều tầm thường nhất để tạo nên cái vĩ đại trong tình thương yêu của Chúa. Đó chính là ý nghĩa đích thực mà Ông muốn hướng đến; tôi nghĩ thế. Khi tôi viết những dòng cuối cùng của cuốn Truyện Ký này, Vũ Thành An đang trên đường trở về Việt Nam để tiếp tục cuộc hành trình Sứ Vụ đời đời mà Ông hứa nguyện. Xin đăng nguyên văn lời tâm sự của Ông trước khi trở về trong ơn cứu rỗi:
Thưa quý vị!
Hôm nay An lên đường về Việt Nam. Vũ Thành An về VN kỳ này cũng trong Sứ Vụ Thương Yêu Teresa mà An đã phục vụ suốt những năm qua. Cụ thể mang ý nghĩa sau:
Chuẩn Bị cho tương lai khi An hoàn toàn nghỉ hưu. Có 3 sinh hoạt chính:
Về Âm Nhạc thì An đã có thể tin cậy một tài năng mà An đã nhận làm học trò tiếp nối dòng nhạc của mình là ca sỹ Ngọc Châm, người sáng lập Vàng Son Một Thuở. Chương trình trong những ngày tới xin để Ngọc Châm trình bầy với quý vị.
Về Gia Đình Teresa Quoc Te là Cộng Đoàn tận hiến chuyên làm việc Bác Ái , hiện đang có mặt trên 10 quốc gia thì An tiếp tục củng cố và phát triển để những người nghèo được giúp đỡ mãi về sau trong tương lai. Cụ thể là o Việt Nam An sẽ khai trương Mái Ấm An Vũ diện tích 1800 mét vuông ở Đồng Tín Bình Phước ngày 8 tháng 4. Nơi đây đang nuôi dưỡng mấy chục em không có gia đình và sẽ nhận nuôi thêm nhiều em nữa.
An sẽ đi thăm và phát quà tại một số địa điểm.
Sản phẩm Đông Trùng Hạ Thảo của Duọc Thảo Teresa An Vũ Herbs cũng đã được cấp phép. An sẽ ra mắt ngày 6 tháng 4 tại Saigon. lợi nhuận có được từ Duọc Thảo Teresa cũng sẽ được đưa vào quỹ Bac Ái.
Vũ Thành An cũng tham gia một vài sự kiện âm nhạc khác do Công Ty Phương Nam và Doanh Nhân Chu Thị Hồng Anh đang phụ trách một số chương trình truyền hình tổ chức, tất cả đều gây Quỹ Bác Ái
An xin cám ơn tất Cả quý vị đã thương mến những bài Khong Tên và đồng hành với An trong việc đem lại an ủi thương yêu đến những người khó khăn suốt 17 năm qua kể từ khi An bắt đầu Sứ Vụ Teresa năm 2002. An tin rằng quý vị sẽ tiếp tục hỗ trợ An trong thời gian tới, đặc biệt An tin rằng ca sỹ Ngọc Châm người học trò của An sẽ tiếp nối An không những trong phạm vi nghệ thuật mà còn trong lãnh vực Bác Ái nữa.
Ngọc Châm cũng đóng góp rất lớn trong việc xây dựng Mái Ấm An Vũ mà cô còn làm Đại Diện cho Dược Thảo Teresa tại Hanoi nữa. An hy vọng cô ấy đúng là hậu duệ mà An tin tưởng.
 Vũ Thành An



Lời kết

Ai rồi cũng trở về. Về với cội nguồn quê hương, về với nơi chôn nhau cắt rốn để được thả hồn tìm lại thuở thơ ngây. Nhất là những người lìa xứ tha hương cầu thực, những người thời gian còn lại trong đời đếm ngày, đếm tháng như ngọn đèn lung lay trước gió. Nhưng với tôi, với những người trân trọng và yêu quý Vũ Thành An, nghĩ rằng: Sự trở về của Ông luôn mang một tấm chân tình, một tấm lòng bao dung, một tình thương bác ái dành cho con người; cụ thể là những đứa trẻ được Ông nuôi dưỡng, những cụ già neo đơn, khó khăn được Ông chăm lo.
Và điều chúng ta tôn quý và biết ơn, chính là những gầy dựng của Ông cho tương lai: Cộng Đoàn TERESA và Hội Tu Thánh Dismas. Ở đây, tiêu chí của Ông không phân biệt tôn giáo, địa vị, màu da, sắc tộc, tuổi tác và giới tính. Tất cả cùng hòa chung tấm lòng yêu thương, bác ái, cầu nguyện cho nhau sự bình an trên cõi đời và được Phước ở cõi Vĩnh Hằng.
Chúng ta hãy cùng cầu nguyện cho Ông bình an và sức khỏe trong ơn Chúa để tiếp tục cuộc hành trình Sứ Vụ yêu thương, bác ái.
Chúng ta hãy cùng cầu nguyện cho mình cho mọi người được sống trong hòa bình, tự do và nhân ái.
Mọi việc làm đã qua, hôm nay và ngày mai đúng sai, tự mình suy gẫm ai là người có quyền phán xét ta cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay.
Cái còn lại, tồn đọng mãi mãi trong lòng người, là: CHO ĐI VÀ ĐƯỢC NHẬN LẠI.
Để kết thúc cuốn Truyện Ký này, xin tặng quý vị độc giả Ca Khúc:

AI PHÁN XÉT CHO TA
                        Lời: Lê Viết Hòa
                        Nhạc Vũ Thành An

Có đôi lúc tôi viết bài tình ca
Không để cho tôi
Cũng không riêng người nào
Những khi ấy tôi xin cùng Thượng đế
Chia sẻ tình mình ra khắp thế gian
Chúa vẫn yêu đều mọi người
Vẫn mưa ơn cho trần gian
Tôi là ai Tế Vĩnh Viễn
Mà nhiều ước vọng
Tôi chẳng là gì
Mà phán xét ai
Cứ ước mơ
Đời còn dài
Cứ cho đi
Sẽ được cho
Hãy rộng tha
Để được tha tội
Điểm cuối cùng ai phán xét cho ta
Điểm cuối cùng xin Chúa xét cho ta.