NGƯỜI CƯỚI CON SÔNG QUÊ
Văn Đắc
Khoảng năm 1983, Nguyễn Ba gửi cho tôi một chùm
thơ 3 bài: “Cây dừa cụt ở làng Yên Vực”, “Sữa mẹ” và bài
“Nicola Ghiden” (sau in báo Văn nghệ Thanh Hóa). Thơ còn
nguyên tâm tình nóng bỏng của người lính trẻ, ngợi ca hồ
hởi, trong trẻo nhưng cũng đầy rung cảm, yêu thương.
Những ngày ấy, tôi có ít lần thăm thú ngôi làng của anh.
Làng nằm bên tả ngạn sông Mã, áp chân cầu Hàm Rồng.
Thời chiến tranh chống Mĩ, đấy là trận địa ác liệt, là túi bom,
và đã thành địa danh anh hùng vang dội của Thanh Hóa.
Nguyễn Ba là hội viên lớp đầu của Hội Văn học Nghệ
thuật Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo chuyển về, nhưng qua
lại với anh em văn nghệ được ít lâu thì vắng hẳn tiếng thơ
anh. Gần đây, giữa năm 2015, tôi bất ngờ được đọc tuyển
tập thơ "Dòng thời gian" (NXB Hội Nhà văn), đã gặp lại
Nguyễn Ba với lấy Nick facebook là Ba Nguyen với chùm thơ
5 bài có nhiều câu gợi cảm, biến hóa:
"Đêm tắm trần trăng cởi áo cho sông"
Hay:
"Em cho vào nắng hạ chút hương trăng
Cho vào gió chút mơ màng lơi lả"...
Thú vị quá, tôi liền điện cho Ba theo số điện thoại
được ghi trong phần giới thiệu tác giả. Ít lâu sau, anh mang
đến tôi tập bản thảo "Đêm phù sa". Tên tập thơ cho ta rất
nhiều liên tưởng, cảm nhận.
Trong bài "Ba nụ hôn", anh viết: "Em phù sa của yêu
thương sinh nở", thì “phù sa” không chỉ còn là nghĩa đen,
mà hai chữ “phù sa” đã là sự phồn thực của hai bờ con sông
quê, mườn mượt mộng mơ trên dòng kí ức. Dòng sông thơ
anh, dòng sông đầy trăng hay một dòng trăng đầy thèm
khát, mơ mộng tình yêu? Với một "Chiều thu say", con sông
thơ - con sông quê - con sông dậy thì của Nguyễn Ba đã hóa
thành người đẹp, vừa thôn quê, gần gũi, vừa trang trọng,
xa mơ:
"Chiều nâng bầu rượu
Chưa chịu rót
Sông lơi váy áo
Lửng lờ trôi
Mây trần thả xuống đôi chân nõn
Khỏa động lòng xanh
Sóng ghẹo người"...
Đi qua "Đêm phù sa", tôi có cảm giác con người
Nguyễn Ba là cả một dòng chảy: dòng sông, đồng bãi, làng
quê, tình yêu, và thậm chí cả bến bờ, núi đồi đều cuộn chảy
trong không gian yên bình của quê hương, xứ sở, trong cái
làng Yên Vực nằm ở vùng hạ lưu sông Mã:
"Em như bãi bờ dưới trăng mờ tỏ
Thơm từ chân sóng thơm lên"...
(Miền châu thổ)
Tôi có hỏi đùa Ba, hình như thơ anh còn thiêu thiếu
cái mảng lăn lộn suy tư, trăn trở của bộn bề cuộc sống? Anh
cười liền lành và trả lời nhỏ, chậm rằng, như một người đã
ổn định gia đình, vui vẻ an bình cùng con cháu đấy, nhưng
đã trải qua bao gian nan, khó khăn của quá trình xây dựng!
Cũng như dưới âm thanh bay bổng của dây đàn là những ngón
tay bầm tím, chai sẹo của nhạc công, anh không muốn người
đọc thơ chạm phải cảm xúc xót xa, ức uất vốn đã dày nhặt
trong cuộc sống hàng ngày, anh muốn thơ anh mang đến
những vẻ đẹp an bình, thân thương, gần gụi cho mọi người...
Quả vậy, thơ toàn nói về sông nước, làng quê, tình
yêu mà không hề trùng lặp. Mỗi bài thơ một ý nghĩa, mỗi
câu thơ một cảm xúc, mỗi hình ảnh gợi cho ta một hay nhiều
niềm yêu... Thơ dư thừa sinh lực nên "tiêu pha" có vẻ hơi
phung phí, rất may là đúng chỗ, không tùy tiện.
Có những bài thơ như “Trăng bãi bồi” lời lẽ thật thà
mà ý tình trang trọng, sức biểu đạt rất khái quát:
"Mai anh về vác mảnh trăng quá tuổi
Ra bến sông quê, để lên thuyền
Chở ra bãi bồi rồi anh quỳ xuống sỏi
Đốt cỏ đồng hong trăng lại sáng lên"...
Có những bài thơ kể về người quê, cảnh quê rất cảm
động; có những bài kể chuyện người xưa, tình riêng gợi tiếc
nuối, cảm thương. Dù thơ viết theo thể nào, 5 chữ, lục bát,
tự do hay văn xuôi thì vẫn một lối tâm tình, nồng nàn; một
cách nhìn hướng về cái đẹp, giàu nhân tính!
"Đêm phù sa" là đêm của người trai luống tuổi mà
rất trẻ trung, một người chân quê mà tài hoa vừa bổi hổi
xao xuyến, vừa trầm tĩnh nghĩ suy, biết gạt bỏ ngững âm
thanh chói chang, sợ hãi để lắng tiếng thầm thì trong tâm
tưởng mình, tiếng dịu dàng thương mến của chung quanh.
Được biết anh còn vẽ rất đẹp, từng công tác trong
lĩnh vực hội họa, và như vậy, cùng với thơ, Nguyễn Ba đã
có đủ niếm tự tin đi qua "Đêm phù sa", mang câu thơ này
đến với một ban mai rộng lớn:
"Tháng Chín này anh cưới một con sông
Cưới cả cánh đồng trăng thơm phức"
(Hương quê).
Thanh Hóa, tháng 12-2015
Nhà thơ VĂN ĐẮC
Tuesday, February 23, 2016
Friday, February 19, 2016
"NGẪU HỨNG ĐỜI" TẬP THƠ CỦA PHAN HUY HÙNG (sách do Diễn đàn Văn chương & Cuộc sống liên kết in ấn xuất bản)
Bàn về tác phẩm “Lùi lại tuổi thơ”
Trong chu trình tiến hóa, chuyển luân của vạn vật, của đất trời, của bầu vũ trụ này, mọi sự vật, sự việc diễn tiến dù có lặp lại như một quy luật thì cái điểm căn bản lặp lại ấy cũng không bao giờ, và không thể trùng khít lên nhau giống như đường dịch chuyển của các bánh răng kim loại đang kiên trì vận hành theo chu trình lặp lại trong lòng chiếc đồng hồ truyền động lực quay cho các cây kim báo thời khắc, tuần tự lướt qua các vị trí y như cũ – các con số mốc định lượng cho quãng thời gian giờ, phút, giây. Cuốn “La musique et les musiciens” của Albert Lavingnon chủ về thuyết của sự phát triển theo đường xoáy ốc của nghệ thuật, có dẫn giải rằng: “Sự tiến triển của nghệ thuật qua các thế kỷ có thể tượng bằng một đường xoáy ốc tiến lên, mỗi một vòng thì lại xoay đến một chỗ giống nhau theo bình diện thẳng nhưng theo chiều cao khác nhau, và cứ theo lên một điểm ở trong cõi vô cùng tận, tức là “lý tưởng””… Thử dùng ánh sáng của thuyết ấy phổ lên trường thời gian nghệ thuật thơ, (như một phái sinh hữu lý của nghệ thuật nói chung), nhằm minh định quan điểm thời gian của Phan Huy Hùng qua bài thơ “Lùi lại tuổi thơ” xem sao nhé!
Cảm thức về thời gian trong bài thơ, được tác giả ngầm mặc định qua /bằng một quãng thời gian (vật lý) trong cuộc đời một con người, với định điểm tuổi thơ như đặc trưng cơ bản xác định dấu mốc tồn tại của con người giữa trời đất thiên nhiên. “Lùi lại tuổi thơ” như tiêu đề bài thơ đã xác quyết bao gồm hai tầng nghĩa đen và nghĩa bóng, nếu quy về hệ thời gian vật lý, rõ ràng tất cả đều phi logic và phản khoa học! Bởi, bản chất tự nhiên của bậc ông bà, cha mẹ nào khi sinh hạ và nuôi dưỡng con cháu, cũng mong muốn cho con mình nhanh qua giai đoạn ấu thơ để hướng đến sự trưởng thành cả về tâm, sinh lý, đó cũng là niềm tự hào của các ông bố, bà mẹ khi kể về con cháu mình đã luôn hãnh diện rằng “con tôi đã trưởng thành” như một tổng kết nhanh, đầy viên mãn cho thiên chức làm ông bà, cha mẹ (tất nhiên mức độ ấu thơ, trưởng thành, già cả đều trong diện phổ quát của tiêu chí xã hội đương thời)! Vậy phải hiểu thế nào cho phù hợp tiêu đề “Lùi lại tuổi thơ” khi tác giả đã chủ ý trưng ra như một định đề, rồi tập trung kiến giải bằng các góc độ lý trí.
Rõ ràng một tác phẩm thơ, với thiên tính nghệ thuật, tất không thoát hay chịu đứng ngoài vùng chiếu sáng của mỹ học, của triết học sáng tạo! Và khái niệm quãng thời gian tuổi thơ đã được tác giả định hình, định lượng và định tính (hình tượng hóa: “Tôi ẵm tuổi thơ tôi”) từ hai khổ thơ đầu, như dự báo cho sự ra đời một số phận thơ, một nhân vật “Tôi” đầy cá tính, với hàm lượng thông tin dày đặc, liên tiếp tựa lớp lớp sóng dồi qua các lớp ngôn từ, thi ảnh:
Tuổi thơ tôi
vương
làn môi cháu nhỏ
Khóc - cười
cũng đẹp
tự nhiên
đời...
Tôi ẵm tuổi thơ tôi
bước qua triền sóng gió
không ánh sầu, tiếc nuối
rưng rưng…
Ta hãy thử hướng sự chú ý của lý trí về khoảng dao động, biến đổi du dịch của quãng thời gian tuổi thơ, để nắm bắt cái cơ chế của sự dịch chuyển từ thời gian vật lý thuần túy sang thời gian nghệ thuật qua phép tu từ phá vỡ cấu trúc câu của ngôn ngữ thông thường (Tuổi thơ tôi vương làn môi cháu nhỏ), tạo điểm nhấn cho động từ “vương” đóng vai trò một nhịp cầu chuyển tải, nối hai đơn vị từ phiếm chỉ hai chủ thể khác nhau, hai hình ảnh thơ khác nhau, vào một mối liên kết chặt chẽ, đầy đủ (“Tuổi thơ tôi” là một trạng thái tồn tại biểu đạt một quãng thời gian vật lý, có sự khởi đầu và kết thúc xác định, và tất nhiên vô hình).
Và cấu trúc nhịp điệu (Tôi ẵm tuổi thơ tôi bước qua triền sóng gió không ánh sầu, tiếc nuối rưng rưng)…thành (Tôi ẵm tuổi thơ tôi/ bước qua triền sóng gió/ không ánh sầu, tiếc nuối/ rưng rưng)… như âm vọng đôi hồi thở than của một trạng thái tâm hồn đang đắm chìm trong hoài niệm, và chiêm nghiệm xa xót: “Tôi ẵm tuổi thơ tôi”, phút chốc đã hóa thân vào hệ thống biểu tượng, khả thể, có thể nhìn nhận và cảm nhận, ước định được các chiều kích không - thời gian của nó, bằng các giác quan con người, nhờ động từ “ẵm” được đặt trước cụm từ “tuổi thơ tôi”, tự nhiên, không bị cảm giác khiên cưỡng hay áp đặt chủ quan chi phối. Bằng các thủ pháp biến đổi cấu trúc câu và nhịp điệu câu, ranh giới thời gian vật lý và thời gian nghệ thuật đã được làm mờ, cái “tuổi thơ tôi” giờ đây đã mang một trọng trách nghệ thuật như một trung tâm đặc thù, lý giải cho cái phi tự nhiên mà tiêu đề bài thơ đã định ra, đồng thời đảm trách vai trò của một tiên đề, dẫn dắt cảm thức thời gian trong mạch thơ đang phát triển, hướng về thiên tính nghệ thuật:
Thấm thoắt mưa nắng bão bùng
Bụi thời gian ầm ã
Cuốn tôi về
tuổi thơ hôm nay
Hình ảnh “Bụi thời gian” sẽ là thừa thãi khi đi trước nó là các hình ảnh mưa nắng, bão bùng với đủ chức năng định hình, định tính, định lượng. Và tất nhiên, thi ảnh này chưa hẳn thuộc về sáng tạo, bởi trước đó, đã có một số tác giả thơ đã sử dụng đắc địa như một sự đổi mới về mặt ngôn ngữ (“Mạt thời gian lấm tấm chảy qua đầu – thơ Nguyễn Thánh Ngã); (Cọc thời gian ngàn năm treo bóng nước ngược dòng thuyền con – Đêm linh diệu – Dương Tử A) thì rõ ràng, tính sáng tạo kỳ vọng nơi siêu biểu tượng “thời gian” trong trường hợp này rất dễ bị hòa trộn vào dòng chảy chung của tư duy tiếp nhận ngôn ngữ thơ thường hằng nếu không có sự đột phá, hay làm mới tạo dấu ấn (về mặt khái niệm, hoặc ngôn ngữ) để vượt qua rào cản cố hữu (tính dễ bị trơ, mòn về xúc cảm của hệ thống siêu biểu tượng). Xét ở tổ hợp “Bụi thời gian ầm ã…”, khi biểu tượng “Bụi thời gian” song hành tồn tại với cụm từ tượng thanh “ầm ã” đã nghiễm nhiên trở thành một tổ hợp từ, tác dụng định danh cho một khái niệm mới về mặt ngôn ngữ cho một quãng thời gian, ám chỉ một dòng xoáy, một cơn bão (tâm trạng) đang xuất hiện hay sẽ xuất hiện, tạo được dấu ấn lạ cho cảm thức về thời gian.
Đến đây, khái niệm ngôn nghĩa của hai chủ thể “tuổi thơ tôi” và “tuổi thơ hôm nay”, đã có đủ dữ liệu để ta có thể đi đến sự thống nhất mà không hàm hồ về cặp đôi biểu tượng đã xét đã có chung những đặc trưng cơ bản tương đồng về định tính (vô tư, trong sáng, vị kỷ), định lượng (cùng chung điểm xuất phát và chung quãng thời gian (vật lý, quy ước) cho cuộc đời một con người tính đến khi trưởng thành, cũng tương tự như vòng tròn của quy luật phát triển tự nhiên sinh - lão - bệnh - tử của đời người, tức đã có sự lặp lại, trùng lên nhau (cùng giai đoạn tuổi thơ). Riêng yếu tố không gian thì có sự khác biệt hẳn, bởi giữa hai biểu tượng, đã nghiễm nhiên tồn tại (tính từ thời điểm xuất hiện “tuổi thơ tôi” cho đến “tuổi thơ hôm nay”) là biên độ đủ lớn về không gian (hôm qua và hôm nay), vì thế “tuổi thơ hôm nay” sẽ mang dáng dấp của một chủ thể mới, một đối tượng độc lập ngoài bản thể “tôi”. Có nghĩa, nó, cái “tuổi thơ hôm nay” tuy đã được tiên liệu trước, nhưng vẫn bất ngờ bởi cơn bão tâm trạng vừa quét qua, “cuốn” phăng chủ thể xúc cảm đặt vào đúng cái vị trí ngày xưa trong cuộc đời, nhưng khác biệt hẳn về không gian sinh tồn để thực hiện một chu trình mới phát triển cao hơn.
Vòng lặp nghệ thuật (có thể ngoài ý thức chủ quan của tác giả khi sáng tạo) đã hoàn toàn lộ diện với mối liên hệ nhân - quả, cùng hai tầng nghĩa cơ bản giống nhau của hai biểu tượng, nhưng về mặt xúc cảm rõ ràng “tuổi thơ tôi” phải là tiền đề cho “tuổi thơ hôm nay” neo bám phát triển, có “tuổi thơ tôi” thuộc miền quá khứ, mới có “tuổi thơ hôm nay” thênh thênh hiện tồn.
Dù chẳng được...
vẫn khôn nguôi mơ ước
Tuổi thơ ơi
hãy cùng tôi
lùi lại ngày xưa...
Vấn đề chính mà người dẫn giải nhắm tới, là vòng xoắn ốc nghệ thuật mà biểu tượng “tuổi thơ” dù vô tình hay hữu ý đã manh nha chạm đến. Giả thiết sâu hơn nữa, khi cái vòng lặp đó cứ diễn tiến đều đều, tuần tự như một chu trình phổ quát cho cõi người, trong một mặt phẳng không - thời gian, thì hà tất phải đem bài thơ “Lùi lại tuổi thơ” mà mổ xẻ phân tích làm gì, hoặc giả tứ thơ chỉ ẩn tình, đề cập hay gợi nhắc đến sự hoài niệm nuối tiếc “tuổi thơ” trong đời vừa vụt trôi qua, tất chẳng đáng bàn thêm. Nhưng tác giả đã dự liệu:
Tuổi thơ ơi
hãy cùng tôi
lùi lại ngày xưa...
Rõ ràng sau cái vòng lặp nghệ thuật vừa phôi thai định hình, thì biểu tượng “tuổi thơ” của khổ thơ cuối, có tác dụng dung hòa cả hai biểu tượng như mặc định văn bản, đồng thời cũng là biểu tượng thừa hưởng trọn vẹn xúc cảm sáng tạo của “tuổi thơ tôi” và “tuổi thơ hôm nay”. Về mặt nghệ thuật, có thể khẳng định đó chính là biểu tượng phái sinh từ quá trình giao thoa, của hai biểu tượng tiên đề, và khoảng cách không gian nghệ thuật cần thiết để tồn tại như một thực thể độc lập vẫn là điểm sáng hội tụ của hai biểu tượng trước.
Phải chăng cái vòng xoáy ốc nghệ thuật lại được bắt đầu lặp lại nhưng vói một chu trình mới hơn, cao hơn chính là cái khát khao đến cháy bỏng của đời người khi đã trôi đến gần cuối dốc cuộc đời - Khát khao tìm lại ngày xưa… qua lăng kính tuổi thơ?!
Hà nội 9.2015
TRẦN VĂN TỘC
Trong chu trình tiến hóa, chuyển luân của vạn vật, của đất trời, của bầu vũ trụ này, mọi sự vật, sự việc diễn tiến dù có lặp lại như một quy luật thì cái điểm căn bản lặp lại ấy cũng không bao giờ, và không thể trùng khít lên nhau giống như đường dịch chuyển của các bánh răng kim loại đang kiên trì vận hành theo chu trình lặp lại trong lòng chiếc đồng hồ truyền động lực quay cho các cây kim báo thời khắc, tuần tự lướt qua các vị trí y như cũ – các con số mốc định lượng cho quãng thời gian giờ, phút, giây. Cuốn “La musique et les musiciens” của Albert Lavingnon chủ về thuyết của sự phát triển theo đường xoáy ốc của nghệ thuật, có dẫn giải rằng: “Sự tiến triển của nghệ thuật qua các thế kỷ có thể tượng bằng một đường xoáy ốc tiến lên, mỗi một vòng thì lại xoay đến một chỗ giống nhau theo bình diện thẳng nhưng theo chiều cao khác nhau, và cứ theo lên một điểm ở trong cõi vô cùng tận, tức là “lý tưởng””… Thử dùng ánh sáng của thuyết ấy phổ lên trường thời gian nghệ thuật thơ, (như một phái sinh hữu lý của nghệ thuật nói chung), nhằm minh định quan điểm thời gian của Phan Huy Hùng qua bài thơ “Lùi lại tuổi thơ” xem sao nhé!
Cảm thức về thời gian trong bài thơ, được tác giả ngầm mặc định qua /bằng một quãng thời gian (vật lý) trong cuộc đời một con người, với định điểm tuổi thơ như đặc trưng cơ bản xác định dấu mốc tồn tại của con người giữa trời đất thiên nhiên. “Lùi lại tuổi thơ” như tiêu đề bài thơ đã xác quyết bao gồm hai tầng nghĩa đen và nghĩa bóng, nếu quy về hệ thời gian vật lý, rõ ràng tất cả đều phi logic và phản khoa học! Bởi, bản chất tự nhiên của bậc ông bà, cha mẹ nào khi sinh hạ và nuôi dưỡng con cháu, cũng mong muốn cho con mình nhanh qua giai đoạn ấu thơ để hướng đến sự trưởng thành cả về tâm, sinh lý, đó cũng là niềm tự hào của các ông bố, bà mẹ khi kể về con cháu mình đã luôn hãnh diện rằng “con tôi đã trưởng thành” như một tổng kết nhanh, đầy viên mãn cho thiên chức làm ông bà, cha mẹ (tất nhiên mức độ ấu thơ, trưởng thành, già cả đều trong diện phổ quát của tiêu chí xã hội đương thời)! Vậy phải hiểu thế nào cho phù hợp tiêu đề “Lùi lại tuổi thơ” khi tác giả đã chủ ý trưng ra như một định đề, rồi tập trung kiến giải bằng các góc độ lý trí.
Rõ ràng một tác phẩm thơ, với thiên tính nghệ thuật, tất không thoát hay chịu đứng ngoài vùng chiếu sáng của mỹ học, của triết học sáng tạo! Và khái niệm quãng thời gian tuổi thơ đã được tác giả định hình, định lượng và định tính (hình tượng hóa: “Tôi ẵm tuổi thơ tôi”) từ hai khổ thơ đầu, như dự báo cho sự ra đời một số phận thơ, một nhân vật “Tôi” đầy cá tính, với hàm lượng thông tin dày đặc, liên tiếp tựa lớp lớp sóng dồi qua các lớp ngôn từ, thi ảnh:
Tuổi thơ tôi
vương
làn môi cháu nhỏ
Khóc - cười
cũng đẹp
tự nhiên
đời...
Tôi ẵm tuổi thơ tôi
bước qua triền sóng gió
không ánh sầu, tiếc nuối
rưng rưng…
Ta hãy thử hướng sự chú ý của lý trí về khoảng dao động, biến đổi du dịch của quãng thời gian tuổi thơ, để nắm bắt cái cơ chế của sự dịch chuyển từ thời gian vật lý thuần túy sang thời gian nghệ thuật qua phép tu từ phá vỡ cấu trúc câu của ngôn ngữ thông thường (Tuổi thơ tôi vương làn môi cháu nhỏ), tạo điểm nhấn cho động từ “vương” đóng vai trò một nhịp cầu chuyển tải, nối hai đơn vị từ phiếm chỉ hai chủ thể khác nhau, hai hình ảnh thơ khác nhau, vào một mối liên kết chặt chẽ, đầy đủ (“Tuổi thơ tôi” là một trạng thái tồn tại biểu đạt một quãng thời gian vật lý, có sự khởi đầu và kết thúc xác định, và tất nhiên vô hình).
Và cấu trúc nhịp điệu (Tôi ẵm tuổi thơ tôi bước qua triền sóng gió không ánh sầu, tiếc nuối rưng rưng)…thành (Tôi ẵm tuổi thơ tôi/ bước qua triền sóng gió/ không ánh sầu, tiếc nuối/ rưng rưng)… như âm vọng đôi hồi thở than của một trạng thái tâm hồn đang đắm chìm trong hoài niệm, và chiêm nghiệm xa xót: “Tôi ẵm tuổi thơ tôi”, phút chốc đã hóa thân vào hệ thống biểu tượng, khả thể, có thể nhìn nhận và cảm nhận, ước định được các chiều kích không - thời gian của nó, bằng các giác quan con người, nhờ động từ “ẵm” được đặt trước cụm từ “tuổi thơ tôi”, tự nhiên, không bị cảm giác khiên cưỡng hay áp đặt chủ quan chi phối. Bằng các thủ pháp biến đổi cấu trúc câu và nhịp điệu câu, ranh giới thời gian vật lý và thời gian nghệ thuật đã được làm mờ, cái “tuổi thơ tôi” giờ đây đã mang một trọng trách nghệ thuật như một trung tâm đặc thù, lý giải cho cái phi tự nhiên mà tiêu đề bài thơ đã định ra, đồng thời đảm trách vai trò của một tiên đề, dẫn dắt cảm thức thời gian trong mạch thơ đang phát triển, hướng về thiên tính nghệ thuật:
Thấm thoắt mưa nắng bão bùng
Bụi thời gian ầm ã
Cuốn tôi về
tuổi thơ hôm nay
Hình ảnh “Bụi thời gian” sẽ là thừa thãi khi đi trước nó là các hình ảnh mưa nắng, bão bùng với đủ chức năng định hình, định tính, định lượng. Và tất nhiên, thi ảnh này chưa hẳn thuộc về sáng tạo, bởi trước đó, đã có một số tác giả thơ đã sử dụng đắc địa như một sự đổi mới về mặt ngôn ngữ (“Mạt thời gian lấm tấm chảy qua đầu – thơ Nguyễn Thánh Ngã); (Cọc thời gian ngàn năm treo bóng nước ngược dòng thuyền con – Đêm linh diệu – Dương Tử A) thì rõ ràng, tính sáng tạo kỳ vọng nơi siêu biểu tượng “thời gian” trong trường hợp này rất dễ bị hòa trộn vào dòng chảy chung của tư duy tiếp nhận ngôn ngữ thơ thường hằng nếu không có sự đột phá, hay làm mới tạo dấu ấn (về mặt khái niệm, hoặc ngôn ngữ) để vượt qua rào cản cố hữu (tính dễ bị trơ, mòn về xúc cảm của hệ thống siêu biểu tượng). Xét ở tổ hợp “Bụi thời gian ầm ã…”, khi biểu tượng “Bụi thời gian” song hành tồn tại với cụm từ tượng thanh “ầm ã” đã nghiễm nhiên trở thành một tổ hợp từ, tác dụng định danh cho một khái niệm mới về mặt ngôn ngữ cho một quãng thời gian, ám chỉ một dòng xoáy, một cơn bão (tâm trạng) đang xuất hiện hay sẽ xuất hiện, tạo được dấu ấn lạ cho cảm thức về thời gian.
Đến đây, khái niệm ngôn nghĩa của hai chủ thể “tuổi thơ tôi” và “tuổi thơ hôm nay”, đã có đủ dữ liệu để ta có thể đi đến sự thống nhất mà không hàm hồ về cặp đôi biểu tượng đã xét đã có chung những đặc trưng cơ bản tương đồng về định tính (vô tư, trong sáng, vị kỷ), định lượng (cùng chung điểm xuất phát và chung quãng thời gian (vật lý, quy ước) cho cuộc đời một con người tính đến khi trưởng thành, cũng tương tự như vòng tròn của quy luật phát triển tự nhiên sinh - lão - bệnh - tử của đời người, tức đã có sự lặp lại, trùng lên nhau (cùng giai đoạn tuổi thơ). Riêng yếu tố không gian thì có sự khác biệt hẳn, bởi giữa hai biểu tượng, đã nghiễm nhiên tồn tại (tính từ thời điểm xuất hiện “tuổi thơ tôi” cho đến “tuổi thơ hôm nay”) là biên độ đủ lớn về không gian (hôm qua và hôm nay), vì thế “tuổi thơ hôm nay” sẽ mang dáng dấp của một chủ thể mới, một đối tượng độc lập ngoài bản thể “tôi”. Có nghĩa, nó, cái “tuổi thơ hôm nay” tuy đã được tiên liệu trước, nhưng vẫn bất ngờ bởi cơn bão tâm trạng vừa quét qua, “cuốn” phăng chủ thể xúc cảm đặt vào đúng cái vị trí ngày xưa trong cuộc đời, nhưng khác biệt hẳn về không gian sinh tồn để thực hiện một chu trình mới phát triển cao hơn.
Vòng lặp nghệ thuật (có thể ngoài ý thức chủ quan của tác giả khi sáng tạo) đã hoàn toàn lộ diện với mối liên hệ nhân - quả, cùng hai tầng nghĩa cơ bản giống nhau của hai biểu tượng, nhưng về mặt xúc cảm rõ ràng “tuổi thơ tôi” phải là tiền đề cho “tuổi thơ hôm nay” neo bám phát triển, có “tuổi thơ tôi” thuộc miền quá khứ, mới có “tuổi thơ hôm nay” thênh thênh hiện tồn.
Dù chẳng được...
vẫn khôn nguôi mơ ước
Tuổi thơ ơi
hãy cùng tôi
lùi lại ngày xưa...
Vấn đề chính mà người dẫn giải nhắm tới, là vòng xoắn ốc nghệ thuật mà biểu tượng “tuổi thơ” dù vô tình hay hữu ý đã manh nha chạm đến. Giả thiết sâu hơn nữa, khi cái vòng lặp đó cứ diễn tiến đều đều, tuần tự như một chu trình phổ quát cho cõi người, trong một mặt phẳng không - thời gian, thì hà tất phải đem bài thơ “Lùi lại tuổi thơ” mà mổ xẻ phân tích làm gì, hoặc giả tứ thơ chỉ ẩn tình, đề cập hay gợi nhắc đến sự hoài niệm nuối tiếc “tuổi thơ” trong đời vừa vụt trôi qua, tất chẳng đáng bàn thêm. Nhưng tác giả đã dự liệu:
Tuổi thơ ơi
hãy cùng tôi
lùi lại ngày xưa...
Rõ ràng sau cái vòng lặp nghệ thuật vừa phôi thai định hình, thì biểu tượng “tuổi thơ” của khổ thơ cuối, có tác dụng dung hòa cả hai biểu tượng như mặc định văn bản, đồng thời cũng là biểu tượng thừa hưởng trọn vẹn xúc cảm sáng tạo của “tuổi thơ tôi” và “tuổi thơ hôm nay”. Về mặt nghệ thuật, có thể khẳng định đó chính là biểu tượng phái sinh từ quá trình giao thoa, của hai biểu tượng tiên đề, và khoảng cách không gian nghệ thuật cần thiết để tồn tại như một thực thể độc lập vẫn là điểm sáng hội tụ của hai biểu tượng trước.
Phải chăng cái vòng xoáy ốc nghệ thuật lại được bắt đầu lặp lại nhưng vói một chu trình mới hơn, cao hơn chính là cái khát khao đến cháy bỏng của đời người khi đã trôi đến gần cuối dốc cuộc đời - Khát khao tìm lại ngày xưa… qua lăng kính tuổi thơ?!
Hà nội 9.2015
TRẦN VĂN TỘC
Thursday, February 18, 2016
215 BÀI HÁT RU CHO CON CHÁU TRƯỞNG THÀNH - CỦA NGUYỄN QUANG PHI (sách do Diễn đàn Văn chương & Cuộc sống liên kết xuất bản)
BẾ MẸ
Tuổi thơ mẹ bế hỉ hoan
Mẹ kiệt, bế mẹ mắt tràn nhói tim
Bao ngày mẹ lịm nằm im
Tay run thìa cháo tìm môi mẹ cười
Bế nâng tắm rửa cho người
Những giây phút ấy rã rời ruột gan
Quặn lòng bế mẹ nhập quan
Mẹ an nghỉ dưới ngút ngàn nhớ
thương.
Hành trình của chữ hiếu
Trong bài thơ Bế Mẹ của
Nguyễn Quang Phi
Trong cuộc đời
một con người, tình cảm và các mối quan hệ gia đình là yếu tố không thể thiếu,
góp phần quan trọng định hình nên giá trị của nhân cách sống và phong cách ứng
xử với xã hội. Đan cài trong các mối quan hệ được giới hạn tại phạm vi tình cảm
gia đình truyền thống và phi truyền thống, thì phạm trù của đức hiếu rất rộng
lớn, nó định hình và phổ quát mọi hành vi, thái độ ứng xử, giao tiếp giữa mỗi
thế hệ, được quy định bởi tính huyết thống theo một tôn ti, trật tự được duy
trì bởi sự công nhận của truyền thống luân lý xã hội, và hệ thống luật pháp
đương thời.
Triết lý nhà
phật khẳng định: “Nhân sinh bách hạnh
hiếu vi tiên”, trong trăm hạnh của con người, hạnh Hiếu đứng đầu với năm
điều khuyến nghị mỗi cá nhân con người trong cộng đồng nên hướng tâm
theo: Phụng dưỡng cha mẹ bằng phương tiện vật chất và hướng dẫn người trên
bước đường tinh thần; Làm những công việc nặng nhọc thay cha mẹ; Giữ gìn gia
phong; Chi dụng gia sản của cha mẹ một cách hợp lý; Hồi hướng công đức cho cha
mẹ khi người đã lìa đời. Triết luận tư tưởng Nho gia từng có ảnh hưởng tới văn
hóa truyền thống Việt Nam từ hàng ngàn năm cũng luôn đề cao tính hiếu, và coi
đó là một trong những mục đích thiết yếu trên con đường tu thân của mỗi đấng
quân tử. Từ thời Xuân Thu, Khổng Tử đã soạn sách Hiếu Kinh bàn về chữ hiếu: Cha sinh ra ta, mẹ nuôi nấng ta, thương lắm
cha mẹ khó nhọc vì ta. Ân nghĩa sâu xa, trời cao khôn sánh.
Ở bài thơ Bế
mẹ, triết luận về tính hiếu được đẩy cao, thành tư tưởng nghệ thuật chủ đạo,
nâng tứ thơ bay lên vấn vít giữa tầng tầng ngôn nghĩa, tập trung soi chiếu, làm
ngời sáng mỗi trạng thái hành động của các nhân vật thơ:
Tuổi thơ mẹ
bế hỉ hoan
Mẹ kiệt, bế
mẹ mắt tràn nhói tim.
Ngay
hai câu thơ mào đầu, một mẫu tâm trạng thơ đã được kiến thiết, xây dựng như nền
tảng của một cấu trúc tư tưởng thơ, thiên về tính hiếu với đầy đủ các rường mối
vững chắc là quan hệ huyết thống gia đình, mẹ và con. Hai câu thơ là với hai
trạng thái tình cảm trái ngược (ấu thơ vui mừng được mẹ bế, khi trưởng thành tự
cảm thấy xót thương khi giúp đỡ mẹ già yếu, sức cùng lực kiệt), và hai hành
động thơ cũng trái ngược nhau (mẹ bế - bế mẹ), nhưng lại là những nhân tố thiết
yếu giúp tâm trạng thơ khai mở với những nút thắt kịch tính đầu tiên xuất hiện
như một dự báo với mức độ truyền cảm cao nhất, thực sự ám ảnh.
Tâm thức người
xưa (và cả ngày nay) vẫn bị chi phối bởi định kiến "Bất hiếu hữu tam, vô
hậu vi đại" (có 3 điều bất hiếu với cha mẹ, trong đó không có con là
điều nặng nhất), như là một định chế dòng tộc, một thiết chế của tính huyết
thống. Nhưng ở thơ Nguyễn Quang Phi, hiếu tính đã được cảm nhận theo cách tiếp cận
mở rộng hơn, khoáng đạt hơn, với quan niệm giản đơn, cởi mở, thiên về ý thức tự
nguyện, và đề cao yếu tố chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ
như một nghĩa cử của con người, rất nhân bản.
Bao ngày mẹ
lịm nằm im
Tay run thìa cháo tìm môi mẹ cười
Chỉ
một nét cười của mẹ cũng khiến tâm hồn con cái thư thái, thỏa thuê khao khát
sau bao tháng ngày chăm sóc, muôn phần vất vả nhọc nhằn. Nét cười của mẹ, xét
về mặt sinh học trong bối cảnh thơ, là biểu hiện của một dạng sự sống, của hoạt
động sống của cơ thể con người sinh vật thoát khỏi tình trạng tê liệt lâm sàng,
tìm môi mẹ cười trong ngữ cảnh này, ngoài
tác dụng thông báo, đưa đến người đọc một lượng thông tin cụ thể, nhằm giải
thích cho hành động “bế mẹ” ở hai câu thơ mở đầu, còn có tác dụng dự báo cho
những tình huống phát triển của cốt truyện sau này như một xác quyết cho tính
nghệ thuật. Xét trong khía cạnh văn bản thơ, thì nét cười ấy không những chỉ
của riêng mẹ mà còn là của cả miền tiềm thức ấu thơ, thường trực nơi tâm hồn người
con hiếu đạo đang mong mỏi tìm lại mỗi khi được ở bên mẹ. Đó cũng là nụ cười
tâm linh mãn nguyện khai sáng cho tâm tưởng con khi chăm bẵm nâng giấc mẹ, khi “tay run thìa cháo”…
Mẹ là nhân tố cơ
bản kiến trúc nên gia đình, là thành viên trực tiếp lo toan gánh vác và trách
nhiệm kế thừa gìn giữ phát huy truyền thống, gia phong, gia đạo của dòng tộc,
đồng thời cũng là tấm gương cho con cái noi gương học tập hoàn thiện nhân cách
và điều chỉnh mọi hành vi ứng xử trong các mối quan hệ xã hội. Vai trò người mẹ
trong gia đình là hướng nội, luôn chú trọng dành tình cảm tốt đẹp nhất cho con
cháu mình, truyền thống ấy gần như là bất biến, và xã hội cũng đòi hỏi những
người làm con, làm cháu phải cư xử tốt đối với cha mẹ theo truyền thống “trọng
già, già để tuổi cho”. Cái tư xử tốt ấy đã là một biểu hiện, một trạng thái
biểu hiện của hiếu tính, được Nguyễn Quang Phi hành động hóa bằng các chi tiết
hình ảnh thơ:
Bế nâng tắm
rửa cho người
Những giây
phút ấy rã rời ruột gan.
Trạng thái “rã
rời ruột gan” ở ngữ cảnh thơ thật đặc biệt, đặc biệt bởi trạng thái này chỉ
xuất hiện trong tâm trạng những người con hiếu thảo khi chăm sóc cho cha mẹ
mình, cái cảm giác tay đứt ruột xót của tình huyết thống, của máu thịt đã được
di truyền lại, trỗi dậy, mới gây được những hiệu ứng cảm xúc cao cấp ấy, cảm
xúc của riêng trái tim con người, của xúc cảm từ giọt máu có khởi nguồn từ cơ
thể mẹ khi chứng kiến cội nguồn sinh dưỡng đang dần cạn kiệt, nó bao hàm sự bất
lực trước thực tế cuộc sống sinh vật đầy phũ phàng trước vũ trụ bao la, sự cam
chịu bị chi phối khắc nghiệt từ quy luật cuộc sống, sự khao khát hoán cải thời
gian… Sẽ là sự lừa dối xúc cảm nếu người viết không từng trải qua, hay chỉ là sự
ghi chép lại thứ cảm xúc xuất phát từ lòng thương hại giữa người với người, khi
thay nhân vật mẹ bằng bất kỳ một người già, yếu cô đơn nào đó, chắc hẳn cái sự rã rời ruột gan, trong trường hợp giả
định này chỉ là những mỹ từ trang trí cho những câu khẩu hiệu vô hồn, nhàm
chán, giống như điệp trùng các bảng biển quảng cáo, các chùm khẩu hiệu vẫn mắc
giăng đầy rẫy giữa cuộc sống thường nhật. Ở bài thơ “Bế mẹ”, những câu thơ của
Nguyễn Quang Phi thực sự tỏa sáng, đã kịp ghi vào lòng người, tự nhiên như hơi
thở, như dòng nước trong lành làm dịu mát cái gốc “cây đức” trước nguy cơ mỗi
ngày bị tha hóa cằn cỗi trong lòng chúng ta, không dễ gì phủ nhận. Cái ranh
giới giữa thực và dối trong xúc cảm sáng tạo nơi Nguyễn Quang Phi được sáng tỏ không
phải nhờ cái sự “duy cảm” thuần mỹ, mà đến từ tính dự báo dã được cài gút nơi
văn bản. Và cao hơn nữa là nhờ vào tính hiếu vẫn tiềm ẩn nơi tâm hồn người đọc
như một tiếp nhận mã hóa được cài sẵn, chực chờ dịp sẽ bung òa.
Bài thơ như một
cuộc trình diễn các trạng thái tình cảm, các hình ảnh gợi nhắc nỗi đau, niềm
vui của người con trong mối quan hệ gia đình giữa người con và người mẹ. Hành
trình cảm xúc này bắt đầu từ niềm vui của tuổi ấu thơ (hỉ hoan), rồi đến các
trạng thái tinh thần mô tả nỗi đau với cấp độ tăng dần về xúc cảm (nhói tim,
tay run, rã rời ruột gan, quặn lòng) theo thời gian, đồng thời là một hành
trình thú vị về tính hiếu nơi nhân vật con định hình phái lộ. Cái đặc sắc của
bài thơ là các trạng thái tinh thần đặc biệt đều gắn chặt, và xoay quanh hành
động “bế” như một triết luận về ngôn ngữ của cử chỉ, hành động.
Quặn lòng bế mẹ nhập quan
Mẹ an nghỉ dưới ngút ngàn nhớ thương.
Chia
tay đưa tiễn mẹ về cõi vĩnh hằng, với nỗi đau cắt ruột, được nâng bế hình hài
của mẹ trên tay lần cuối cùng trong đời, rồi vĩnh viễn không bao giờ còn cơ
hội, liệu có diễn ngôn nào tả xiết tâm trạng người con khi ấy? Những câu thơ
cũng vậy thôi, sau hình hài những ký tự ngôn ngữ, phải là những dư âm vang vọng
tiếp dài, phải là những thiết lập rung động ngoài văn bản giữa lý trí với lý
trí, giữa trái tim với trái tim. Mối thiết lập xúc cảm ấy được Nguyễn Quang Phi
hội tụ lại trong hình ảnh “Mẹ an nghỉ dưới ngút ngàn nhớ thương”, như một giải
pháp tình thế của hiếu tính trước cơn bão tâm trạng đau đớn mất mát, cần được
xoa dịu, hàn gắn tức thời.
Bài
thơ vẻn vẹn với 4 cặp câu, cô đọng đến từng chi tiết, không tránh khỏi những
hạn chế, nhất là khi xét về cấu trúc của xúc cảm trong tổng thể của cấu trúc
nghệ thuật là bài thơ, sự bất cân xứng xúc cảm thơ giữa các trạng thái tâm
trạng vui và buồn, (niềm vui chỉ được đưa ra duy nhất ở dòng thơ mở đầu như một
đối sánh, một hệ quy chiếu cần và đủ), cách lựa chọn ngôn ngữ mô phỏng cho mỗi
trạng thái ngôn ngữ chưa thật tinh tế (cái đau nhất trong cuộc đời mỗi con
người ấy là khi phải vĩnh viễn chia tay người thân yêu của mình và tiễn đưa họ
về cõi giới bên kia), để lột tả trạng thái tinh thần này, không tinh tế sẽ dẫn
đến hệ quả, sức cảm của bài thơ yếu đi vì sự dễ dãi của người sử dụng ngôn từ.
Hãy xét trong tập hợp các động từ mà tác giả đã sử dụng đắc địa trước đó (nhói
tim, tay run, rã rời ruột gan, quặn lòng), nếu đem so sánh, thì rõ ràng “nhớ
thương”, chỉ có ý nghĩa an ủi động viên phần tâm linh, chứ chưa đủ để gợi về
nỗi đớn đau trực tiếp xảy ra trong tâm trạng người con khi ấy, xúc cảm nghệ
thuật rõ ràng đi vào chỗ bế tắc, hoặc cần thêm rất nhiều những lời bình chú,
giải thích.
Vượt
qua tất cả những hạn chế vừa nêu, người đọc không dễ phủ nhận phần hiếu tính
hiển hiện qua tứ thơ nhẹ nhàng mà rõ ràng, sâu đậm, có tác dụng xuyên suốt các
phân mảnh xúc cảm, các trạng thái tình cảm, giúp bài thơ có một vị trí nhất
định trong lòng bạn yêu thơ, đó cũng là thành công không nhỏ của người làm thơ
trên hành trình tiếp cận bạn đọc của mình. Người đọc cũng có quyền hy vọng trong
tương lai, nhà thơ Nguyễn Quang Phi sẽ còn góp thêm cho đời nhiều bài thơ hay
hơn nữa về mảng đề tài hiếu đạo này.
"MỘT NGÀY THU" - tập thơ của VŨ VIẾT TIẾN, NXB LAO ĐỘNG, 2015) sách do DIỄN ĐÀN VĂN CHƯƠNG & CUỘC SỐNG in ấn và xuất bản
LỜI GIỚI THIỆU
Người lính đi
qua cuộc chiến trở về đời thường, trở về với quê hương, nơi gắn bó trọn ấu thơ,
cũng tựa như hạt mầm được gieo vào lòng đất mẹ, chờ đợi mùa đơm bông kết trái
trĩu ngọt tình người.
Tập thơ “Một
ngày thu” - Nhà xuất bản Lao Động, 2015 của tác giả Vũ Viết Tiến - người từng khoác
trên mình bộ quân phục của người lính trận năm xưa, và cũng từng trăn trở với
bộn bề công việc mưu sinh nơi hậu phương sau khi xuất ngũ, hầu mong đóng góp
công sức vào công cuộc chung tái thiết và xây dựng đất nước sau chiến tranh như
đồng đội, như thế hệ tuổi trẻ của ông đã tâm nguyện. Bằng năng lực của mình,
ông đã miệt mài lao động không ngơi nghỉ trên những trang viết, lắng lọc, gọt
dũa, trau chuốt từng lời, từng ý từ vốn kinh nghiệm sống, chiến đấu, lao động
và học tập của mình, của thế hệ mình ký thác vào ngòi bút như một món quà tinh
thần hữu ích dành cho đời, cho người tri kỷ tâm giao. Với bầu bạn, đồng đội quý
mến ông, thì mỗi trang thơ sẽ là một chùm quả ngọt của hy sinh dâng hiến, của
cõi giới tâm hồn đau đáu hướng về chân, thiện, mỹ, về sự nhân ái trường tồn nơi
trái tim mỗi người.
Sự kỳ vọng của
bầu bạn tri âm với thơ của ông, hoàn toàn có cơ sở, bởi phẩm chất của những người
lính như ông từng trải qua chiến trận, đối mặt với sự sống và cái chết trong
tấc gang vì danh dự Tổ quốc, vì sự bình yên của hậu phương yêu dấu, không ngại
hy sinh tuổi trẻ, xương máu nơi sa trường, thì ở bất kỳ hoàn cảnh nào, bản lĩnh
của họ cũng luôn tỏa sáng, và đó là nhân tố không thể thiếu để xây dựng nên
nhân cách và chân dung người lính trong mỗi trang thơ của Vũ Viết Tiến hôm nay.
Hy vọng bạn đọc
sẽ tìm thấy sự đồng điệu của mình qua mỗi trang thơ!
Trân trọng giới
thiệu cùng bạn đọc!
NHỚ QUỲNH LÂM
Nhớ ngày về hội Quỳnh Lâm
Mưa phùn gió lạnh tôi cầm tay em
Chiều buông chùa đã lên đèn
Thỉnh lời cầu nguyện người chen dòng người.
Ba mươi xuân lẻ em ơi
Tình đầu vẫn thắm nét đời thủy chung
Ngày ấy vãn hội Quỳnh Lâm
Xa rồi thổn thức lặng thầm đêm thâu.
Nhớ em cô gái sông Cầu
Anh nơi biển bạc xanh màu bốn phương
Thái Bình – Kinh Bắc yêu thương
Mong sao chung một con đường quê hương.
Niềm yêu lòng dạ tơ vương
Câu thơ xưa cổ vô thường se duyên
Quỳnh Lâm khánh đá chuông đồng
Ta đi lên vợ lên chồng đấy thôi.
Quỳnh Lâm hai tiếng bồi hồi
Mai sau còn mãi hát lời ru êm.
........................
Chùa Quỳnh Lâm là ngôi chùa cổ đời nhà Trần thuộc huyện Đông
Triều tỉnh Quảng Ninh.
NÚI SẠN
Em đưa tôi về núi Sạn
Chiều đông còn chút nắng vàng
Con đường bê tông rộng mở
Chạy dài hun hút thung sâu.
Em bảo ngày xưa núi Sạn
Một vùng sỏi đá lô nhô
Ai qua Việt Dân chẳng nhớ
Quê mình miền đất hoang sơ.
Nơi đây đất cằn sỏi đá
Màu xanh đã phủ khắp đồi
Núi Sạn chiều nay tôi đến
Ngỡ ngàng kỳ tích thần tiên.
Rừng vải, rừng na hoa trái
Tiếng chim ríu rít gọi bầy
Đã qua tháng ngày gian khó
Bao mồ hôi thấm đất này.
Sỏi đá cũng thành sắn gạo
Câu thơ chân lý con người
Núi Sạn quê em xứ sở
Bức tranh ngày mới đẹp tươi.
.............................
Núi Sạn ở xã Việt Dân, huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh.
GIA TÀI ĐỂ LẠI
Gia tài để lại cho con
Là những vần thơ yêu thương
Những trải nghiệm cuộc đời
Tháng năm đong đầy mồ hôi gian khó.
Gia tài để lại cho con
Là mảnh đất quê, mưa nắng, nhọc nhằn
Dòng họ mình bao đời khai thiên lập địa
Nơi núi rừng đất mỏ hoang vu…
Gia tài để lại cho con
Là mảnh đất cha ông sâu nặng tâm hồn
Cha đã đi qua chiều dài chiến tranh,được, mất
Có một hồn quê đau đáu ở trong lòng.
Gia tài để lại cho con
Là nơi con cất tiếng khóc đầu tiên
Là dòng sữa mẹ chắt chiu, không bao giờ cạn
Nâng con chập chững bước vào đời.
Gia tài để lại cho con… không gì hơn…
Vần thơ nhân ái, lý, chí làm người…
ĐẦU XUÂN 2016 - DIỄN ĐÀN VĂN CHƯƠNG & CUỘC SỐNG TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU MỘT SỐ BÀI TIỂU LUẬN TRONG TẬP "THỜI GIAN LÊN TIẾNG" CỦA NGUYÊN TỔNG BIÊN TẬP BÁO VĂN NGHỆ HẠ LONG
BÀI THƠ “RẮN ĐẦU BIẾNG HỌC”
KHÔNG PHẢI LÀ SÁNG TÁC
CỦA LÊ QUÍ ĐÔN
Đây là
bài thơ rất nổi tiếng từ lâu đã được truyền tụng trong dân gian, tương truyền
là của Lê Quí Đôn, có trong Giai thoại văn học Việt Nam và nhiều
sách khác. Nhân đầu xuân Quí Tỵ vừa rồi, nhiều báo và tạp chí, từ Hà Nội đến
các địa phương và TP Hồ Chí Minh, ra số tết, số xuân, dẫn bài thơ này và đều
ghi là của Lê Quí Đôn. Từ lâu tôi đã không tin điều đó. Bài thơ như sau:
RẮN ĐẦU BIẾNG HỌC
Chẳng phải liu điu cũng giống
nhà
Rắn đầu biếng học quyết không tha
Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ
Nay thét mai gầm rát cổ cha
Ráo mép chỉ
quen tuồng lếu láo
Lằn lưng chẳng khỏi vết roi cha
Từ nay Trâu Lỗ xin siêng học
Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia
Tôi chép bài thơ này từ tạp chí Văn học và tuổi trẻ, dành cho cấp tiểu
học, nhà xuất bản Giáo dục, số 1 năm 2013, trang 14, vốn là một trong các xuất bản phẩm, có độ
tin cậy được coi là cao nhất, vì nó nằm trong tiêu chí chung của nhà xuất bản
này, là dạy đạo làm người cho thanh
thiếu niên cả nước. Những chữ hoa và in đậm, đều là nguyên văn của văn bản được
dẫn. Rồi bài đăng trên báo Quân khu Ba,
bài đăng trên tập chí Nguồn sáng dân gian
gần đây... Rồi xưa hơn nữa là sách Quốc
văn giáo khoa thư soạn cho học sinh lớp sơ đẳng từ trước năm 1945... cũng
có in bài thơ này, “được cho” là của Lê Quí Đôn. “Tương truyền” hay “được cho”
đều không có ý nghĩa khẳng định. Nếu so các văn bản ấy với nhau, thì không văn
bản nào giống hẳn văn bản nào.
Còn câu
chuyện kể về hoàn cảnh ra đời của bài thơ này của cậu bé Lê Danh Phương, tên
thuở nhỏ của Lê Quí Đôn, được ghi như sau:
Có một
ông khá cao tuổi đến thăm, hỏi nhà của bố cậu bé Phương. Lúc ấy Phương đang tắm
trần truồng, liền bảo: nếu ông biết chữ này là chữ gì, cháu sẽ chỉ cho. Nói rồi
cậu đứng dạng cả chân tay ra. Ông khách thấy thằng nhóc con lếu láo, nên đi
thẳng. Phương nói với theo: Ê, ông quan to thế mà dốt à? Ông khách bực quá,
quay lại nói: chữ ĐẠI chứ còn chữ gì. Cậu bé chỉ vào bộ hạ của mình, nói: Đây
là chữ THÁI, thế mà không biết. (Vì chữ Đại thì không có một dấu chấm ở bẹn chú
bé).
Vào nhà
bạn, mới biết đứa bé ấy là con bạn, bèn khen là thông minh hơn người. Nhưng ông
Lê Trọng Thứ thì giận con lắm, bắt nằm xuống đánh đòn. Ông khách xin cho và bảo
cháu làm thơ đi. Và bài thơ ứng khẩu được đọc ngay như trên. Tuy thế có một số
chữ khác nhau trong các bản in khác nhau. Tạp chí Văn Hiến Việt Nam, chép câu 2: “Rắn đầu biếng học ắt không tha”, và câu 6: “Lằn lưng cam chịu vết năm ba”. Rồi nữa, Đại học khoa học Sài Gòn số Xuân Quí Tị, lại in – Lằn lưng chẳng khỏi vết roi da
- Lê Quí Đôn bị cha đánh bằng “roi da” – chi tiết này, tôi chưa thấy ghi ở đâu, nay
thấy ở đây – TNM nhấn mạnh) là những ví dụ, chắc còn chưa hết.
Câu
chuyện về hoàn cảnh ra đời của bài thơ đại khái như thế, truyện dân gian Trạng
Quỳnh lại ghi là của Trạng Quỳnh, giai thoại về Cao Bá Quát lại ghi là của Cao Bá Quát. Đơn giản vì nó có chung một nguồn gốc là
chuyện dân gian.
Cũng như câu thơ rất nổi tiếng:
Nhất sinh
đê thủ bái mai hoa
(Một đời chỉ biết cúi đầu lạy hoa mai)
Mấy chục
năm nay ta gán nó cho Cao Bá Quát và hết lời ca ngợi khí phách của ông trong
câu thơ bất hủ này, thậm chí còn làm giả cả chữ của ông rồi đưa lên thờ. Thực
ra, đó là thơ của viên tri huyện (có tài liệu ghi là tri phủ) Hán Dương tỉnh Hồ
Bắc (Trung Quốc) tên là Ngải Tuấn Mĩ, nguyên văn như sau:
Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa
Có bản dịch là
Mười năm
vất vả tìm cổ kiếm
Một đời chỉ cúi lạy hoa mai
Hai câu ấy, tri huyện Ngải Tuấn Mĩ viết tặng phó sứ nhà Nguyễn
là Nguyễn Tư Giản năm 1868, khi sứ bộ Đại Nam sang triều cống nhà Thanh, đi qua
đó. Chính Nguyễn Tư Giản đã ghi lại hành trình chuyến đi, với hai câu thơ trên
trong cuốn Yên thiều bút lực năm
1868. Được biết văn bản hiện vẫn còn ở dạng chép tay của phó sứ Nguyễn Tư Giản,
được lưu giữ tại Thư viện khoa học Trung ương. Chúng ta đều biết Cao Bá Quát đã
mất từ năm 1854, nghĩa là trước đó đến 14 năm([1]).
Ở ta, từ thời xưa, thường xảy ra những chuyện gán ghép vui vui như thế mà nhiều
người cứ tưởng là thật, rồi viết sách truyền dạy cho nhau, từ đời nọ đến đời
kia.
Lê Quí Đôn là một người thuần hậu, điềm đạm, mực
thước - trong bản tính trước sau nhất quán. Ông tuy có làm quan, nhưng cả đời
ông chăm lo vào các trước tác biên khảo, để ngày nay chúng ta có nhiều công
trình văn hóa lớn do ông để lại.
Tất cả
những điều đó đều nói lên xuất xứ dân gian của thi phẩm. Hơn nữa, trong tất cả
các sách đã xuất bản gồm những trang viết chính thức của nhà bác học Lê Quí
Đôn, đều không có bài thơ này. Ở ta có một sai lầm không biết từ bao giờ mà
cũng chẳng biết đến bao giờ mới kết thúc được, ấy là nhầm lẫn giữa huyền thoại,
chuyện dân gian với lịch sử, rồi một lúc nào đó, nhập luôn chuyện dân gian, huyền
thoại với lịch sử là một, làm cho các giá trị đã có đều biến dạng. Các ý kiến
về bài thơ này nằm trong xu hướng nhầm lẫn đó, từ “tương tuyền”, hoặc “được
cho” là của Lê Quí Đôn, đã thành “của” Lê Qúi Đôn, với tư cách là một sáng tác
nghiêm chỉnh về mặt văn bản học, dù bài thơ đó, không phải của Lê Quí Đôn, thì
vẫn cứ là bài thơ khuyết danh hay, nghệ thuật dùng từ vô cùng tài giỏi. Sau đó
các bài đều giảng giải khá công phu từng câu một, với các loại rắn và đặc trưng
của chúng, như liu điu, hổ lửa, mai gầm...
Đến câu
thứ 7: Từ nay Trâu Lỗ xin siêng học,
(câu này thì tất cả các văn bản đều in như nhau) vấn đề tôi quan tâm là ở câu
này. Văn bản tạp chí Văn học và tuổi trẻ giải
thích, có một lọai rắn tên là hổ trâu, (trong
hai chữ TRÂU LỖ), tôi thấy không có sức thuyết phục. Và như thế, nếu theo
cấu tạo của từ, khi đã có rắn trâu
thì phải có rắn lỗ nữa chứ. Tạp chí Nguồn sáng dân gian lại giải thích chữ Lỗ
là rắn
ở lỗ. Rắn chả ở lỗ (hang) thì ở đâu? Rõ ràng là không ổn. Không thể
tách TRÂU ra khỏi LỖ trong trường hợp này được, cũng như không thể tách liu điu là rắn liu và rắn điu, hay hổ mang là rắn hổ và rắn mang. Lại càng không thể giải thích rắn “trâu”
thì ở “lỗ” còn rắn khác thì ở đâu? Tôi nghĩ tác giả tạp chí Văn học và tuổi trẻ có lẽ cũng nghĩ thế, nên đã viết tiếp: “Cậu cả Phương còn vận dụng cả điển tích đấy. Khổng Tử quê ở đất Lỗ,
còn Mạnh Tử quê ở Trâu Thành. Hai ông này là các cụ tổ của Nho học, nổi tiếng
tài cao học rộng. Tự ví mình như thế, kể
cũng đáng nể đấy” (TNM nhấn mạnh).
Tạp chí Nguồn sáng dân gian cũng giải
thích theo cách đó, là “chỉ quê hương
của Mạnh Tử, Khổng Tử, tượng trưng cho nho học”. Các tác giả giảng giải như
thế đúng
hơn, có
sức thuyết phục hơn, như các sách thường giải thích từ xưa đến
nay, đều cho là Trâu Lỗ không phải tên
một loài rắn, vì không có rắn
trâu lỗ, đặc biệt là không
có rắn “lỗ” - mà là tên quê
hương của Khổng Tử và Mạnh Tử.
Báo Quân Khu 3, số đặc biệt tết Quí
Tị vừa rồi, trang 38, bình bài thơ này, cũng viết với ý tương tự: “Bài thơ có nội dung ý tứ sâu sắc, dẫn cả
điển tích về Khổng Tử và Mạnh Tử, nước Lỗ là quê hương của Mạnh Tử” (và của
cả Khổng Tử). Vậy đã rõ.
Chúng ta
đều biết Lê Quí Đôn (1726 - 1784) là con nhà khoa bảng Nho học nổi tiếng Lê
Trọng Thứ. Cụ Lê Trọng Thứ đỗ tiến sĩ năm 1724. Tôi có tư liệu gốc, ghi, năm
1748, khi Lê Quí Đôn 22 tuổi, cụ là “Thiêm sai Đông các hiệu thư” của bộ Lễ. Ở
thời Lê, đạo Nho cực thịnh, là quốc đạo - mà bộ Lễ của triều đình làm nhiệm vụ “quản
Lý nhà nước”, như chữ chúng ta dùng bây giờ. Ai từng biết sơ qua về các cụ nhà
Nho, đều nhớ câu châm ngôn: “Thịt thái không vuông không ăn, chiếu trải không
vuông không ngồi, lời nói không có lễ nghĩa, không nghe”. Ngay Hồ Xuân Hương (Hồ
Xuân Hương thật 1772 - 1822, không phải Hồ Xuân Hương dân gian), theo lời của Tốn Phong, ghi ở đầu tập thơ Lưu
Hương kí của bà, tháng 3 năm Giáp Tuất (1814), thì thơ Hồ Xuân Hương "xuất phát từ cảm hứng nhưng biết dừng lại
ở phạm vi lễ
nghĩa. Vui mà không đến nỗi buông tuồng... thơ đúng phép mà văn hoa...” và Phạm Đình Hổ (1768 - 1839) tự thuật
trong Vũ trung tùy bút: “rất ghét thanh sắc, nghề cờ bạc, và những
chuyện rủ rê chơi đùa”. Ai nói
những điều ấy thì ông “bịt tai lại,
không muốn nghe”. Vậy mà thơ “truyền tụng Hồ Xuân Hương” còn cho ông là
người “ghẹo nguyệt giữa ban ngày”,
cho Hồ Xuân Hương, “cả cành đa lẫn củ
đa”, và chửi đời rất sảng khoái theo kiểu lưu manh: “Rày thì đù mẹ cái hồng nhan”. Đến thời Nguyễn, Bộ luật Gia Long (do bậc
nhất công thần nhà Nguyễn là Nguyễn Văn Thành làm tổng tài biên soạn) còn ghi: “Phàm quan văn võ ở đêm với con hát, hay đem con hát vào tiệc rượu, phạt 60
trượng”, nghĩa là giải ra công
đường, lột mũ áo, đánh cho 60 gậy rồi đuổi về vườn.
Phải nói
dài thế để thấy các nhà Nho rất trọng đạo lí và các khuôn phép, coi đó là lẽ
sống của mình. Có thể chết để giữ thanh danh chứ không vi phạm. Vậy thì làm sao
tin được một cậu bé học Nho, con nhà Nho, một nhà Nho quan trường, 8 - 9 hay 10
tuổi (tức là lúc bố cậu đã đỗ tiến sĩ từ 10 đến 12 năm, đang làm quan, ăn lộc
của triều đình Nho học, đang lo việc nhà nước về Nho học), sau khi bị cha đánh
đòn, cùng một lúc, bằng cả roi tre
và roi da (lằn lưng vì vết roi cha -
hoặc như bản in của Nguồn sáng dân gian: “Lằn lưng chẳng khỏi vệt năm ba ”. Rồi nữa, Đại
học khoa học Sài Gòn số Xuân Quí Tị
– Lằn lưng chẳng khỏi vết roi da, ) mà dám nói thẳng với cha rằng:
“Từ nay CỤ TỔ CỦA CHA (ĐƯỢC CÁC VUA THỜ Ở NHÀ THÁI MIẾU QUỐC TỬ GIÁM KINH ĐÔ
THĂNG LONG là con đây) xin siêng học”. Và nếu điều ấy xảy ra thực, thì pháp chế
phong kiến rất hà khắc, chắc chắn đã không để yên cho cha con cụ. Chúng ta đều
nhớ công thần bậc nhất của nhà Nguyễn là Nguyễn Văn Thành, người đánh thắng Tây
Sơn, góp công quan trọng nhất đưa Gia Long lên ngôi vua, cũng là người soạn Bộ
luật Gia Long và Quốc triều thực lục rất nổi tiếng,
chỉ vì bài thơ tặng bạn (viết về việc đánh cờ tướng) của con là Nguyễn Văn
Thuyên, bị kẻ tị hiềm xuyên tạc tố cáo mà bị tống giam, rồi chính vua Gia Long
đã hạ lệnh chém đầu Nguyễn Văn Thuyên và buộc đệ nhất công thần Nguyễn Văn
Thành phải tự xử bằng thuốc độc. Không có chuyện đùa khi nhà Nho đang học để đi
thi, hoặc đã làm quan cho nhà nước Nho học, lại xúc phạm các bậc Đại thánh của
nhà nước Nho học. Và bây giờ, nếu con các vị cũng nói rằng “Từ nay VUA HÙNG (là
con đây - cụ tổ của các cụ tổ của bố) xin siêng học, bố ạ” (ấy là tôi chưa nói
đến các vị còn linh thiêng hơn nữa khác - mới xứng với Cụ Khổng, Cụ Mạnh đối
với các nhà Nho) liệu các vị có chấp nhận được không? Và điều đó có xảy ra
không?
Do đó tôi
cho rằng, đây là bài thơ đời sau làm, được truyền tụng trong dân gian, rồi gán
cho Lê Quí Đôn, cũng như rất nhiều trường hợp khác đã xảy ra, chỉ kể vài trường
hợp, ví như bài thơ Văn tế cá sấu, được gán cho Hàn Thuyên, (bài của Hàn Thuyên
cùng tên đã thất lạc) bài thơ Vịnh núi Mèo (xã Yên Đức, Đông
Triều, Quảng Ninh - để phân biệt với bài thơ cùng tên ở Thanh Hoá) được gán cho
Trần Nhân Tông, bài thơ Một gánh càn khôn được gán cho Trần
Khánh Dư... và đặc biệt, một trường hợp rất phiền toái, đó là bài thơ Nam quốc
sơn hà... được coi là “Bản tuyên ngôn độc lập thứ nhất” của dân tộc “do
Lí Thường Kiệt viết”. Thực ra bài thơ này đã có từ thời Tiền Lê, có trước Lí
Thường Kiệt với trận đánh của ông ít nhất
là 95 năm, được chính thức gán cho Lí Thường Kiệt([2])...
Các bài trên kia, chỉ có vấn đề về thơ, hoặc
cùng lắm là có vấn đề về lịch sử văn hóa. Còn bài thơ này gán cho Lê Quí Đôn,
còn có vấn đề về đạo lí, về lễ nghĩa, về đạo đức, vô hình chung, đã cùng một
lúc, xúc phạm đến nhân phẩm của Lê Quí Đôn, một nhà bác học uyên thâm, một nhà
văn hoá lớn của dân tộc và đồng thời, cũng xúc phạm luôn cả cốt cách tiết tháo
nhà Nho rất cao quí của cụ thân sinh - tiến sĩ Lê Trọng Thứ rất khả kính. Người
đọc thoáng qua chỉ thích thú cái tài dùng chữ về các loại rắn mà dễ dàng bỏ qua
cái tâm, cái đức, cái đạo, đã bị vi phạm rất nghiêm trọng trong bài. Theo tôi,
cái đó với nhà Nho còn quan trọng hơn cả mạng sống của chính mình. Và như thế,
việc gán bài thơ khuyết danh - sáng tác theo phong cách dân gian này cho Lê Quí
Đôn, thật đúng với câu ca dao mà tôi nghe ở Thái Bình quê hương cụ: Yêu nhau như thế bằng mười phụ nhau.
Trong con mắt của những người có lễ nghĩa, có đạo đức, biết trọng gia phong và
trọng đạo học của cha ông, hình ảnh của nhà bác học Lê Quí Đôn và người cha
kính yêu của cụ, nhà khoa bảng Nho học Lê Trọng Thứ - đã bị xâm hại rất nặng
nề.
Với người thường, cụ Nguyễn Du còn nói: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, còn với nhà Nho thì không biết gấp lên
bằng bao nhiêu. Chính vì rất ngưỡng mộ cả đức và tài của hai cha con cụ, mà tôi
mới viết ra điều này, sau rất nhiều đắn đo. Rất mong được gia tộc của cụ và các
vị cao minh xem xét cho.
(1) Gần đây trong bài viết “Trả lại
tác phẩm cho tác giả”
của Thái Doãn Hiểu đăng trên trang mạng của Hội Nhà văn Việt Nam (vanvn.net),
câu thơ “Nhất
sinh đê thủ bái mai hoa” cũng được nêu rõ xuất xứ của nó, là của
Ngải Tuấn Mĩ (Trung Hoa), chứng tỏ điều đó được nhiều người quan tâm và đã đến
lúc ngã ngũ được rồi, để tránh sự nhầm lẫn cho các thế hệ sau.
Subscribe to:
Posts (Atom)








