Thursday, March 7, 2013

5. CĂN CỨ NGHĨA TRỤ VỚI VAI TRÒ KẾT THÚC CHIẾN LƯỢC BÀNH TRƯỚNG QUYỀN LỰC TRÊN DIỆN RỘNG CỦA TRẦN TỰ KHÁNH

5. CĂN CỨ NGHĨA TRỤ VỚI VAI TRÒ KẾT THÚC CHIẾN LƯỢC BÀNH TRƯỚNG QUYỀN LỰC TRÊN DIỆN RỘNG CỦA TRẦN TỰ KHÁNH

Căn cứ Nghĩa Trụ và đại quân doanh ở Cửu Tỉnh trước sức ép của Nguyễn Nộn liên tục vây lấn vượt sông đánh phá khiến nó gần như bị cô lập hoàn toàn, những luỹ rào cản Lại Linh và Trần Tự Khánh bố trí xây đắp dọc sông Nghĩa Trụ không thể giảm bớt được sức ép chiến lược từ Bắc Giang và kinh sư tràn theo luỹ Vạn Xuân và chợ Cái vượt sông tràn vào. Châu Đình, người được giao trọng tránh giữ đại quân doanh, nhân dịp Lại Linh dẫn quân đi đánh dẹp nơi xa vội ngầm hẹn ước với quân Nguyễn Nộn xin hàng về theo triều đình.
Hậu cứ bị mất khiến Trần Tự Khánh hết sức bàng hoàng, thất bại thảm hại này là đáp án xác thực cuối cùng trả lời cho chiến lược phát triển thế lực cát cứ lâu dài các vùng đất, tạo tiền đề cho Trần Tự Khánh và tôn tộc Trần bước nên nấc thang quyền lực cuối cùng của vương triều. Tháng 3, Trần Tự Khánh đánh làng Khoái, san bằng làng này. Nguyễn Đường và người con của ông tên là Thổ ra hàng ở đó.
Mất hậu cứ Cửu Tỉnh, Trần Tự Khánh sai Nguyễn Đường và Nguyễn Giai, đắp lũy Hoàng, An Lợi đắp lũy An Giá, Dương Từ đắp lũy Công Chúa. Nguyễn Nộn lo sợ trước kế cầm cự lâu dài của quân tộc Trần trên mảnh đất Hồng Châu vội điều xuất hết binh lực tập trung đánh An Lợi, Nguyễn Đường và Nguyễn Giai, các cánh quân đắp luỹ của Trần Tự Khánh ở đây đều bị thua cả.
Trần Tự Khánh nghe tin Nguyễn Đường bị thua bèn dẫn binh đi tiếp cứu, đồng thời sai các viên tướng của y là Trần Thủ Khánh, Trần Hiến Sâm và Đào Phán đóng quân ở Lan Kiều để đánh tướng của Nguyễn Nộn là Phí Thám và thắng được, quân Nguyến Nộn vội vã kéo về đại bản doanh cố thủ.
Trần Tự Khánh nhân đà thắng lại tập trung các cánh quân đi đánh quân Đại Hoàng, do hành binh liên miên, lại phải đánh trận với đám quân quá thành thạo thủy chiến, quân Trần Tự Khánh bị thua to, trong trận ác chiến này viên tướng của Khánh là Nguyễn Đường bị chết đắm trong đám loạn quân.
Để trả mối thù thiệt tướng, mất đất và đặc biệt phải chịu quá nhiều tổn thất cho chi phí các cuộc tiễu binh. Mùa thu, tháng 7, Trần Tự Khánh dẫn quân vào kinh thành đốt cung Động Nhân, vua sợ hãi vội sai rước thần chủ Thái Hậu Linh Nhân về đền Chúc Thánh.
Trần Tự Khánh mất căn cứ Nghĩa Trụ về tay Nguyễn Nộn, liền đem quân về Thuận Lưu, ra sức tiến đánh các nơi uy hiếp kinh thành, một mặt ngầm cho người đốc thúc Trần Thị Dung sớm thuyết phục Lý Huệ Tông, chấp nhận vai trò quyền lực của tộc Trần trong vương triều, bởi cơ hội để nắm vững và khả dĩ khống chế được kinh sư đã rơi vào tay Nguyễn Nộn. Hợp binh cùng triều đình sẽ giúp cho quân của Trần Tự Khánh có thêm được nhiều lợi thế, nhờ đó sẽ dập tắt được cuộc khủng hoảng trong toàn quân tộc Trần.
Giai đoạn này, Lý Huệ Tông đã nhìn ra manh tâm của Nguyễn Nộn, lại thêm Trần Thị Dung luôn bám sát bên cạnh, ngày đêm khéo léo tỉ tê thuyết phục, chỉ vẽ cho nhà vua rõ mối lợi của việc hợp tác cùng Trần Tự Khánh, khiến nhà vua tự nhận thức ra nhiều mặt còn hạn chế trong việc dụng binh, cùng tác hại của hành động áp đặt, điều khiển mọi công việc triều chính của bà Thái hậu tham lam quyền lực. Ngày Giáp Thìn, nhà vua cùng với phu nhân tranh thủ đêm tối, lên thuyền trốn sang trại quân Thuận Lưu theo về với Trần Tự Khánh. Trên đường tìm về, thuyền nhà vua đã gặp thuyền của viên tướng Vương Lê theo lệnh Trần Tự Khánh đem chiến thuyền  đến đón rước và hộ tống về đại quân doanh. Thái hậu và các Công chúa đều lẩn tránh ở Ô Kim không chịu theo về.
Trần Tự Khánh khi thấy nhà vua thì mừng rỡ lắm, liền cho thông báo tin này trong toàn quân, các tướng sĩ vui mừng đánh trống nhảy múa hoan hô nhà vua. Biết vua đã thuận theo thế lực của mình, tháng 11 năm ấy Trần Tự Khánh đưa trả mũ Bình Thiên cho vua như một món quà thế tội.
Sau các cuộc hành binh đánh chiếm cát cứ thế lực, tổn hao binh tướng quá nhiều, năm Bính Tý (năm 1216) là năm Kiến gia thứ 6, Trần Tự Khánh và Lý Huệ Tông đều đã thấy rõ mối lợi của sự hoà hợp thế lực cùng nhau. Đón được Lý Huệ Tông ngả về phe cánh, Thế lực trần tộc một thời lao đao tưởng chừng sập đổ giữa chừng, nay lại hồi sinh, phát triển. Trần Tự Khánh luôn tỏ ra một trung thần hết lòng vì nước, luôn biết chăm sóc ve vãn cho vị vua đang ngày một xa rời vị thế của mình đúng nơi, đúng lúc.    
Tháng giêng, nhà vua cùng với Thái Hậu ngự ở thảo điện (điện bằng cỏ) để thị triều. Trần Tự Khánh trả lại cái ghế bằng vàng.
Đáp trả lại thịnh tình của vị tướng dày dạn trận mạc của tộc Trần, Mùa đông, tháng chạp vua tiến phong cho Trần Thừa tước Liệt hầu, Phùng Tá Chu và Lại Linh đều được phong tước Quan nội hầu. Trần Tự Khánh được đặc tiến thăng làm Thái úy, những lúc triều bái nhà vua thì không phải xưng tên.
Trần Thừa lãnh các đạo binh bao vây Nguyễn Nộn ở Bắc Giang, đồng thời sai mở đê để đưa nước vào các làng ấp. Lại Linh theo cái thế nước ấy mà đánh. Quân của Nguyễn Nộn thua to. Vợ con của Nguyễn Nộn đều bị bắt. Nguyễn Nộn đem hơn một trăm người lui về giữ Phù Ninh (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh).
Một thời gian dài sau khi căn cứ Nghĩa Trụ rơi vào tay Nguyễn Nộn. Trần Tự Khánh và Trần Thị Dung đã khuyên nhủ được vua Lý Huệ Tông chấp nhận trở lại kinh sư hợp binh cùng Trần Tự Khánh, bỏ mặc lời can gián của Thái hậu, vì thế lực của Nguyễn Nộn ngày càng tỏ ra yếm thế, suy yếu dần, ngôi vị trí bá chủ các chiến trường lại thu về tay Tự Khánh và tộc họ Trần hương Tức Mặc.
Căn cứ Nghĩa Trụ được Trần Tự Khánh phát quân đánh chiếm thu hồi, vai trò đối kháng quân sự, khống chế kinh thành của nó đến giai đoạn này cũng hoàn toàn chấm dứt. Khép lại toàn bộ trang sử phát triển cực thịnh của vùng đất một thời là cái chết của Lại Linh và gia quyến, cái chết của người có tâm huyết, công sức tổ chức khai phá, mở mang điền thổ, dân sinh dưới sự vô tình của Trần Tự Khánh. (Xem tiếp bấm vào đây)

4. SỰ PHÁ SẢN CỦA CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN ĐỒNG LOẠT CÁC CĂN CỨ QUÂN SỰ



4. SỰ PHÁ SẢN CỦA CHIẾN LƯỢC
 PHÁT TRIỂN ĐỒNG LOẠT CÁC CĂN CỨ QUÂN SỰ  

Song song cùng sự phát triển của Nghĩa Trụ, rất nhiều vùng đất khác được Trần Tự Khánh điều bộ tướng của mình đi khai thác, mở mang phục vụ cho chiến lược phát triển thế lực lâu dài sau này. Việc cử tướng, điều binh dù được ông chọn mặt gửi vàng, đặt lòng tin trọn vẹn nhưng cũng không tránh khỏi những sơ xuất đáng tiếc bởi lòng trung trong mỗi con người đều có hạn, mà lòng tham thì khôn lường, lại thêm sự kích động lôi kéo của vị Thái hậu nhà Lý đã biết đánh đòn phản công trực tiếp vào những yếu điểm tất có của các bộ tướng dưới trướng Trần Tự Khánh trong chiến lược bành trướng thế lực. Rất nhiều tướng quân được cử đi trấn thủ các vùng đất nối nhau làm phản khiến các cánh quân khác không khỏi dao động, công cuộc cát cứ thế lực trên diện rộng của Trần Tự Khánh khi này hầu như bị phá sản hoàn toàn.   
 Mùa hạ, tháng 4 tướng quân ở Cam Giá (xứ Mía) là Phan Cụ làm phản, Trần Tự Khánh phải dẫn quân đi đánh và bắt được Phan Cụ, đem cầm tù ở Mỹ Lộc, giao lại quyền cho thuộc tướng Đỗ Bị thay thế.
Đỗ Bị lại tiếp tục làm phản, Trần Tự Khánh sai Phan Lân đi bắt, nhưng bị Đỗ Bị đánh thua, cánh quân của Phan Lân bị thiệt hại nặng, có nguy cơ bị Đỗ Bị thôn tính, Trần Tự Khánh sai Lại Linh dẫn cánh quân Nghĩa Trụ đi cứu Phan Lân, cánh quân này đã không giải cứu được Phan Lân, lại bị đánh thua gây thiệt hại lớn cho quân Nghĩa Trụ, Trần Thừa thấy hai vị tướng quân đều thua bèn tự làm tướng dẫn quân đi đánh Đỗ Bị, nhưng đánh không nổi phải rút lui.
Ở Bắc Giang Nguyễn Nộn nhân cơ hội quân của Trần Tự Khánh đang rối ren, vội nổi lên làm phản khiến Trần Tự Khánh phải đích thân xuất quân tham chiến, nhân đó rẽ qua căn cứ Nghĩa Trụ thăm người vợ và cung thất đang xây dựng ở đó.
Giữa khi quân tướng các mặt nối nhau làm phản, Trần Tự Khánh lại được mật báo Nghĩa Tín Vương ở Diêu Đàm thông đồng với Nguyễn Nộn cùng âm mưu tạo phản chống lại thế lực tộc Trần.
Hoang mang dao động trước hiện tượng đồng loạt làm phản của các bộ tướng, khiến bộ óc có tài thao lược Trần Tự Khánh lâm vào tình trạng bất an đến cùng cực, lương thực, tiền của đổ vào để lấp đi khảng trống chi phí cho các cuộc tiễu trừ đám loạn quân đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt. Các tướng soái trụ cột lần lượt hoặc trốn đi, hoặc bị giết khiến lòng quân thêm rối loạn. Lại thêm quân triều đình và các thế lực khác của thái hậu lại đồng loạt nổi lên ra mặt chống lại quyền lực của Trần tộc trong nội triều khiến cuộc khủng hoảng nội bộ trong toàn quân tộc Trần lại nhăm nhe bùng phát.
Ngôi vị và ngay cả tính mạng của Trần Thị Dung đại diện cho nấc thang dang vọng và quyền lực tối thượng của Trần tộc lúc này cũng bị đe doạ nghiêm trọng bởi đích thân thái hậu Đàm Thị và phe cánh của Thái hậu trong triều. Con bài Lý Huệ Tông được Trần Tự Khánh vuốt ve chăm chút không ngoài mục đích ràng buộc chặt sợi dây trách nhiệm giữa Lý Huệ Tông và Trần Thị, thì nay lại chính con bài này cũng tỏ ra không chắc chắn trước uy lực của Đàm thái hậu, sau nhiều lần nhiều lần tìm cách triệt hạ tận ngọn nguồn gốc rễ của quyền lực tộc Trần trong nội triều.
Biết chắc Lý Huệ Tông còn do dự, chưa dám quyết sách vì sức bao trùm quyền lực của thái hậu đang che phủ cả ngai vàng, Tự Khánh và các thân tộc Trần cần phải tìm ra một đối sách nào để đối phó. Một mặt vừa phải đảm bảo chắc chắn cho sự tồn tại của Trần Thị trong triều, vừa để ve vuốt vị vua đang ngày càng mai một quyền lực, vị thế, vừa đảm bảo kín kẽ không để cho Thái hậu có cơ hội phất cờ động binh vào lúc này, vì đó là điều bất lợi dễ nhìn thấy ngay trong các cánh quân của Trần Tự Khánh và thân tộc. Điều cốt yếu nhất, tạo ra điều kiện thuận lợi cho căn cứ Nghĩa Trụ và toàn vùng đất Tế Giang được an toàn mà phát triển làm hậu cứ bành trướng quyền bính cứu vãn tình thế.
 Như đứa trẻ trong trò chơi trêu chọc những trẻ lớn tuổi hơn mình, có sức mạnh hơn mình, nó phải thoả mãn được yêu cầu tự thân của trò chơi đó bắt buộc để bảo vệ an toàn cho mình mà vẫn khiến những kẻ lớn mạnh hơn biết rằng bị trêu chọc mà không cớ gì nổi xung, đánh quật lại được dẫu mười mươi biết rằng mình đang bị xúc phạm, là tiêu điểm của trò chơi do đứa bé kia tạo ra. Trần Tự Khánh phát binh đi cướp vàng bạc và tài vật ở trong phủ đường của các quan. Nhân đó mới đón Nguyễn Vương đi đến hành cung Lị Nhân. Rồi sai Lại Linh đốt cung thất ở kinh đô, gồm có 19 sở. Hành động đốt phá cung thất, cướp bóc tài vật trong trong các dinh phủ của các quan lại đương triều của Trần Tự Khánh vừa là đòn đánh tâm lý răn đe các quan nội triều, vừa nhằm mục đích tăng cường, bổ sung tài lực cho căn cứ Nghĩa Trụ, cái nôi đào tạo quân tinh nhuệ cung cấp cho các chiến trường, lúc này đang lâm vào tình trạng kiệt quệ trầm trọng, đang bị quân triều đình và các thế lực khác dồn vây tứ phía, giữ vững được căn cứ Nghĩa Trụ cũng đồng nghĩa với việc tăng thêm một nút thắt trói buộc, khống chế chặt thêm mối quan hệ vốn đang mỗi ngày thêm rạn nứt giữa ông vua Lý Huệ Tông bạc nhược trước phe cánh Thái hậu với Trần Thị Dung.
Có được thêm tài vật, công cuộc xây dựng căn cứ Nghĩa Trụ lại tiếp tục được đẩy lên tầm cao mới, thành một căn cứ mạnh cả về quân sự lẫn vị thế chính trị, chiến lược, từ đó khống chế và chi phối, giảm đến mức tối đa sự nổi loạn của các phe phái trong quân trướng được cử đi đảm nhiệm trấn thủ các vùng đất lại quay giáo làm phản. Trần Tự Khánh đã chuyển một số gia thuộc về Cửu Tỉnh, một mặt lấy vùng đất này làm chốn dự phòng chiến lược cho gia nhân nếu chính cung bị tấn công bất ngờ, hơn nữa từ lâu Lại Linh là cánh tay đắc lực trong quân doanh của ông, nếu để xảy ra sự tạo phản từ cánh quân này thì thật nguy hiểm, toàn bộ sự nghiệp và mưu đồ chiếm lĩnh đỉnh cao quyền lực của tộc Trần sẽ bị phá sản hoàn toàn. Để đảm bảo chắc chắn Trần Tự Khánh tiếp tục đóng quân ở bến Đại Thông, và đắp lũy ở Nghĩa Trụ.
Phan Lân là một thuộc tướng của Trần Tự Khánh, được Trần Tự Khánh giao cho trấn binh tại Siêu Loại, thấy quân cơ tộc Trần đang lâm vào tình trạng khủng hoảng, lại thêm thế lực của Thái hậu từ lâu có ý mua chuộc, o bế, nên muốn cất binh hưởng ứng theo Nguyễn Nộn. Âm mưu bị tiết lộ, Trần Tự Khánh nhân cơ hội hội quân kiểm tướng tập trận tại châu Đại Thông đã chém chết Phan Lân.
Các tướng giỏi lần lượt bị mua chuộc, phản bội, hoặc bị giết, bị bắt cầm tù, bỏ ngục làm nao lúng tinh thần toàn quân, lại thêm thế lực của Nguyễn Nộn ngày một phát triển, tỏ ra thân thiết với thái hậu qua các mối liên hệ quân sự liên tục triển khai các trận đánh phá cánh quân của các thế lực khác. Mối liên kết chính trị quân sự này khiến quân triều đình được tăng cường thêm sức mạnh, rảnh tay với lộ Bắc Giang mà tập trung bao vây các cánh quân Trần tộc, buộc Trần Tự Khánh phải ra tay trấn áp, công khai đối địch với Nguyễn Nộn, mặc dù khi tiến đánh đạo Bắc Giang, trong tình thế này hết sức bất lợi cho quân Trần Tự Khánh, bởi Bắc Giang có vị trí địa lý, hệ thống đường giao thông thuỷ bộ, lại liền biên giới với Tế Giang, thông thương cùng Nghĩa Trụ, gây chiến với đạo quân này cũng có nghĩa căn cứ quân sự Nghĩa Trụ sẽ phải tăng cường thêm rất nhiều tài lực để có đủ sức phòng vệ, phản kháng với đạo quân Bắc Giang khi chúng ồ ạt tiến công. Nhưng tập trung đánh Nguyễn Nộn, trong tình thế này là là bài học cần phải có của các cánh quân Trần tộc để dạy cho các thế lực khác đang nhăm nhe chờ gió bẻ măng, rình cơ hội liên kết với thái hậu và triều đình để mưu lợi, đó cũng là con bài chiến thuật phòng vệ từ xa ngăn cản sự bành trướng thế lực của Thái hậu và triều đình đến các đạo khác, đồng thời nó cũng ngầm phô trương thanh thế, tăng cường và củng cố lòng quân vững tin vào chiến lược và kế sách của Trần Tự Khánh đã đặt ra khi trước quyết tâm đánh kinh sư.
 Tháng 6, Trần Tự Khánh (xuất quân tiến) đánh Nguyễn Nộn ở cung Thánh Nghi, rồi đốt cung ấy.
Đánh Bắc Giang, Trần Tự Khánh đã vô tình đấy con bài Trần Thị Dung vào thế chông chênh, chịu thêm nhiều sức ép mới, ngay cả Huệ Tông khi này cũng ngày một hướng sự nghi ngờ vào đội ngũ quan lại tộc Trần, phế Thị Dung xuống làm ngự nữ. Nguyễn Nộn, sau cú đánh mang tầm chiến thuật của Trần Tự Khánh đã một mực về hùa cùng Thái hậu, ra sức công kích phe phái Trần tộc, cùng gây sức ép khiến vua Lý Huệ Tông phải xuống chiếu dụ tuyên chiến cùng Trần tộc.
Mùa thu, tháng 7, ngày Mậu Thìn nhà vua xuống chiếu đắp lũy từ cửa thành Vạn Xuân đến chợ Cái để ngăn cản Trần Tự Khánh.
Con đường phía tả ngạn sông Nghĩa Trụ đến Siêu Loại và dẫn vào kinh sư giờ đây bị phong bế hoàn toàn bởi ba, bốn cánh quân của ba bốn thế lực. Mạn Tế Giang, lãnh địa của Trần Tự Khánh mỗi ngày càng bị co hẹp lại bởi các trận vây ráp, đánh lẫn nhau giữa các phe phái. Trong nội triều, lá bài chính trị Trần Thị Dung có cơ hồ đổ sụp trước đủ mọi nguy cơ, hiểm hoạ đe doạ từ thế lực Thái hậu, Lý Huệ Tông bị sự lấn lướt của phe phái Nguyễn Nộn, ngày càng hoang mang nghi ngờ Trần Tự Khánh và vai trò Trần tộc trong triều. Đây là sự bất lợi hay thất bại chiến thuật nặng nề nhất mà Trần Tự Khánh và Trần tộc không thể không tính đến. Các căn cứ quân sự mỗi ngày đều bị o ép, bao vây, cô lập.  Để cứu vớt tình trạng này, dù trong lòng lửa hận có bốc lên ngùn ngụt, Trần Tự Khánh và thân tộc Trần vẫn phải chọn lấy một giải pháp mang tính quyết định nhanh lấy một phương sách đối phó tạm thời với tình thế.
 Tháng 9, Trần Tự Khánh sai Nguyễn Ngạnh đưa Đàm Kinh Bang về kinh sư tâu rõ rằng mình chẳng có ý gì khác. Nhà vua nghe Nguyễn Ngạnh đến lại càng sợ mới sang nhà Doãn Bá ở ngõ Phiên Cầm. Nguyễn Ngạnh đi rồi nhà vua mới trở về cung.
Thất bại ngày càng đến gần, lá bài Lý Huệ Tông có nhiều xu hướng tách xa Trần tộc, sau nhiều lần liên tục, gián tiếp đánh động đến ông vua nhu nhược Lý Huệ Tông mà không có kết quả, lại thêm sự nóng lòng tiếc xót cho cơ hội vươn lên duy nhất của tộc Trần đang ngày đêm bị đe doạ xâm hại, o bức trong hoàng cung bởi bà Thái hậu quá ư khắc nghiệt, Trần Tự Khánh trở lên mất hết bình tĩnh và sự sáng suốt vốn có của mình, liên tiếp phạm lại những sai lầm. 
Ngày Đinh Hợi, Trần Tự Khánh dẫn binh xâm phạm cửa khuyết. Nhà vua cùng với Thái hậu may mắn được hội quân để chống giữ. Ngày đó Trần Tự Khánh thả quân sĩ đi cướp lấy các tài vật trong phủ của nhà vua. Rồi lại đốt phá gần hết cung thất và nhà dân ở trong kinh thành.
Ngày Kỷ Tỵ, nhà vua cùng với Thái hậu trở về kinh sư thấy cung thất bị thiêu hủy hư hỏng hết cả mới trọ lại ở đền Chúa Thánh bên cạnh cầu Thái Hòa. Nhà vua sai dựng ngôi nhà tranh để ở.
      Trước tình trạng cướp phá, gây sức ép ngày càng thái quá của Trần Tự Khánh, năm Ất Hợi là năm Kiến gia thứ 5 (năm 1215) vua Lý càng dốc lòng đề phòng. Dù Trần Thị Dung ngày đêm tìm mọi cơ hội gần gũi khuyên giải, nung lạc tinh thần, tưởng chừng vua đã quên hẳn cuộc chiến quyền lực với tộc Trần, nay quân của Tự Khánh ngang nhiên mượn cớ vào đánh Nguyễn Nộn, lại xâm phạm cửa khuyết và cướp phá lãnh cung, tỏ ý coi thường vua và triều đình quá rõ ràng, cuộc chiến với tộc Trần là điều dễ dự báo và không thể tránh khỏi sau hàng loạt những hành động quá quắt của Trần Tự Khánh. 
Tháng giêng nhà vua hạ chiếu rằng: "Trần Tự Khánh tụ tập đảng tặc hung bạo cướp phá trộm cắp chốn kinh sư. Dưới nước, trên cạn đều có quân tiến đánh làm phương hại đến tông miếu xã tắc mà trong mùa đông qua, cái khí thế mạnh lại càng bốc mạnh hơn. Trần Tự Khánh đốc xuất lũ buông tuồng tham tàn bạo ngược. Chúng cướp bóc tài vật của ta. Chúng đốt sạch cung thất của ta. Cho đến nỗi các khu xóm ở kinh thành hóa thành đống tro tàn. Trẫm nhân vì cái nỗi căm giận của ức triệu thần dân lại nhờ cái linh thiêng của một ông tổ và sáu ông tông. Đem cả sáu quân, thân hành đánh dẹp chúng. Vậy tướng soái sĩ tốt các ngươi khi đã đều được nghe lời chiếu này thì mỗi người phải đem hết tâm lực ra mà dùng làm cho đầy đủ theo ý trẫm".
Lời chiếu ban ra đã rõ ràng, ngòi nổ của cuộc phân tranh quyền lực đã được chính tay Huệ Tông châm, Tự Khánh chỉ là nguyên nhân gián tiếp gây nên mầm hoạ loạn này, nhưng đứng sau tất cả vẫn là bàn tay của Thái hậu và Nguyễn Nộn. quân triều đình và quân Trần tộc đánh nhau, rõ ràng mối quan hệ giữa Trần Thị Dung, nấc thang bước tới giấc mộng quyền lực tối cao của tộc Trần đã bị chính tay nhà vua hất bỏ. Trong nội triều, uy vũ của Thái hậu sẽ không còn mối lo bị chia sẻ bởi thế lực họ Trần, Huệ Tông đã chấp nhận lao vào cuộc phân tranh này, có nghĩa sức mạnh tập hợp các thế lực khác đang dần đi vào quỹ đạo, vận hành đúng hướng mong muốn của Thái hậu và Nguyễn Nộn. Khi lâm trận, thế quân của Tự Khánh sẽ bị cô lập hoàn toàn.
Để đối kháng lại, Trần Tự Khánh đóng quân ở Cứu Liên, phân chia cho các tướng sĩ của y đóng quân ở Cửu Cao và Cửu Ông để ngăn ngừa Nguyễn Nộn. Rồi sai tướng quân ở Khoái Lộ là Nguyễn Đường và Nguyễn Giai lại giữ dân đất ấy. Nguyễn Đường và Nguyễn Giai lại cùng với Nguyễn Nộn thông đồng mưu sự với nhau để đánh Trần Tự Khánh. Trần Tự Khánh sai Lại Linh giữ An Duyên Phù Liệt, để từ đó đến đánh Đường, Giai và Nguyễn Nộn. Nhà vua sai người đánh An Duyên Phù Liệt và thắng được.
Liên tiếp thất bại trên các chiến trường, Tự Khánh khi này như con ngựa chiến trúng thương, điều binh xuất trận, quân doanh được căng ra chống đỡ ở các hướng, đối với những thế lực bên ngoài thì vậy, bên trong quân các tướng lại tiếp tục làm phản, như một phản ứng dây chuyền khiến chiến lược phát triển và bành trướng thế lực của ông rơi vào tình thế khủng hoảng trầm trọng, căn cứ Nghĩa Trụ không còn đủ sức cung cấp quân binh, lương thực cho các chiến trường, bản thân Lại Linh cũng được điều động đi đánh dẹp khắp mọi nơi, đại quân doanh của Lại Linh cùng Tự Khánh ở Cửu Tỉnh tạm thời được giao cho người cháu của Tự Khánh tên Châu Đình trấn giữ, coi sóc.
Phía triều đình nhà Lý, có được vùng đất Bắc Giang làm đối trọng quân sự với Trần Tự Khánh, Thái hậu như tìm thêm được đôi cánh cho thế lực của mình, Nguyễn Nộn biết được điểm yếu của Huệ Tông vốn nhu nhược, bị Thái hậu quản chế, o ép liền lợi dụng ngay chính Thái hậu làm con bài tiến thân của mình, ra sức ve vuốt quyền bính của Thái hậu bằng những trận đánh quấy phá quân Trần tộc, từ đó tỏ cho thái hậu rõ tiềm năng quân sự, chỉ Nguyễn Nộn là có thể đối chọi, khống chế  được thế lực của Trần Tự Khánh. Qua đó lôi kéo thái hậu cùng o bế Huệ Tông xin tập phong tước vương ở đất Bắc Giang. Nhìn thấy cái lợi của việc phong tước vương cho Nguyễn Nộn sẽ đảm bảo cho quyền bính của mình trong triều, đồng thời sau này có thể dựa hẳn vào thế lực Nguyễn Nộn để bảo đảm cho cơ đồ nhà Lý bền vững lâu dài, Thái hậu ra sức chỉ trích Tự Khánh và thúc bách vua sớm quyết định. Trước sức ép của Thái hậu, tháng 2 năm đó vua đành phong Hầu tước ở Bắc Giang là Nguyễn Nộn thành tước Vương. (Xem tiếp bấm vào đây)



LẠI LINH VÀ CÔNG TÁC TÁI THIẾT KHU CĂN CỨ NGHĨA TRỤ

2. LẠI  LINH
   VÀ CÔNG CUỘC TÁI THIẾT NGHĨA TRỤ
     
Lại Linh được giao đảm trách việc khôi phục và tái thiết căn cứ Nghĩa Trụ, việc đầu tiên là chiêu mộ dân lưu tán từ các vùng đất lân bang, nhưng công việc này thật phức tạp và khó khăn gấp bội lần như ông hằng nghĩ. Dân Nghĩa Trụ xưa chủ yếu sống bằng nghề chài lưới và cuộc sống bám vào các cửa sông lớn theo mùa nước, đất đai trồng cấy chỉ được một vụ mà còn bấp bênh như đánh bạc với trời bởi nạn lụt lội vào mùa mưa bão, nước từ thượng nguồn sông cái đổ về, dâng cao vượt mặt đê, cả lộ Tế Giang thành đầm chứa nước mênh mông. Dân cư sống nhờ nghề nông chỉ chiếm một phần nhỏ, độ đôi mươi nóc nhà nơi những gò cao khả dĩ tránh được nạn lụt lội vào mùa nước lũ. Khi Trần Tự Khánh chọn nơi đây làm căn cứ quân sự, khai hoá mở rộng đất đai, mộ dân lập ấp, trước kia dân cư sinh sống ở đây chủ yếu là gia quyến của đám binh lính dưới trướng, dân từ các lộ lân cận đổ về làm ăn buôn bán thông thương khá nhộn nhịp, sau khi Đoàn Thượng hợp binh cùng triều đình đánh lén, Trần Tự Khánh phải bỏ Tế Giang về Quốc Oai lập căn cứ,  vùng đất Nghĩa Trụ bị quân của Đoàn Thượng tàn phá nặng nề, sự tàn sát trả thù của người lộ Hồng khiến cho vùng đất trù mật Nghĩa Trụ trở thành vùng đất chết, dân Nghĩa Trụ lâm vào thảm trạng bi ai, li tán kẻ sống sót phải tha phương cầu thực đi kiếm ăn các nơi.
      Trước tình trạng như vậy, việc tổ chức củng cố  lại cơ cấu hành chính và công tác mộ dân lập ấp, khai hoang phục hoá, và trị thuỷ là công việc thiết yếu, được Lại Linh hết sức chú trọng. Ông chủ trương dồn sức cho công việc khơi thông, nạo vét  dòng chảy sông Nghĩa Trụ tạo điều kiện thoát nước tiêu úng nhanh cho các vùng đất vừa được khai phá có thể đi vào trồng cấy, cho phép dân tứ xứ kéo đến ngụ cư và kêu gọi dân bản địa trở về làm ăn sinh sống bằng cách xuất 3 tháng lương thực trong kho quân lương giúp đỡ mỗi hộ dân cư mới đến lập nghiệp ổn định cuộc sống. Bản thân ông cũng mang toàn bộ gia quyến về ra sức cùng dân binh khai hoang khẩn hoá lập thành những điền trang. Căn cứ vào địa giới trước kia, ông tổ chức lại bộ máy hành chính trên đất Nghĩa Trụ thành trại ấp, Hoa Cầu và Đồng Tỉnh, Bảo Vực...
Đất Hoa Cầu là nơi đóng quân doanh của thuỷ quân với các xưởng quân đóng mới và sửa chữa thuyền bè, cung cấp cho nội phủ và các cánh quân đang chinh chiến, đồn trại trên các vùng đất khác. Đồng thời Hoa Cầu cũng có thể được coi như một trường huấn luyện quân thuỷ đặc biệt với địa hình khá nhiều kênh rạch tự nhiên phù hợp cho công việc huấn luyện và cung cấp cho toàn quân những toán quân thuỷ tinh nhuệ được chọn lọc, chiến đấu thuần thục trên các địa bàn đồng bằng và đầm lầy ở các lưu vực sông.
Đất Đồng Tỉnh có địa thế bằng phẳng, tương đối cao với các gò bãi được coi là trung tâm của căn cứ Nghĩa Trụ, trong con mắt của nhà tổ chức, Lại Linh chọn làm nơi đóng trị sở, hành cung với các trại quân doanh san sát, đây là nơi tập kết và huấn luyện quân bản bộ rất ưu việt. Trên đất Đồng Tỉnh, có nhiều đầm nước tự nhiên, tất cả đều rất sâu và có mạch ngầm thông ra sông nhánh Nghĩa Trụ, nên nước trong đầm không bao giờ cạn, và là môi sinh thuận lợi cho các loại cá tôm nước ngọt phát triển quanh năm.   
      Dân cư lưu trú quanh các đầm nước này khá đông đúc, họ đời sống phát triển theo phương thức săn bắt tôm cá trên đầm và trồng cấy trên các dải ruộng cao, khi các cánh quân của triều đình tiến từ kinh sư hội thuỷ binh trên đoạn Thiên Mạc rồi chia hai mũi tiến quân, một nhánh qua cửa Xuân Quan xuôi về, một cánh qua cửa Đông đất Siêu Loại hợp binh cùng cánh quân của Đoàn Thượng từ vùng Hồng ngược theo sông Khoái tràn về cướp phá, triệt hạ, những người dân sống ở đây nhờ thông thổ địa hình và nhờ vào các lạch nước dày đặc giữa rừng lau sậy um tùm mà lánh lấp, thoát nạn. Khi quân triều đình kéo đi, họ lại trở về sinh sống, gây dựng lại điền trang gia sản.        
      Để đưa dân binh dần ổn định cuộc sống, Lại Linh chia các thuộc hạ thân tín đi cai quản, khai phá thêm các vùng đất mới, mở rộng lãnh địa về hướng Tây – Tây nam của căn cứ, đồng thời ra các lệ mới trong toàn quân như không được cướp phá hoặc khai thác tranh chấp xâm hại các sản vật của dân bản xứ, không được cướp đoạt những vùng đất đai đã có chủ sở hữu, mỗi hộ dân binh khi có thêm xuất đinh đều được hưởng thêm những phần ruộng đất ưu đãi, được cấp lương ăn cho bà mẹ… v.v. nhờ vậy dân lưu tán các nơi nườm nượp kéo về lập nghiệp sinh sống, sản xuất phát triển, thóc lúa tích trữ đầy các kho đụn, quân số nhờ vậy tăng trưởng không ngừng. Trên vùng đất Đồng Tỉnh trước kia chỉ có vài mươi nóc nhà dân, với dăm dòng họ chính như Tô, Trần, Phan, Lê… nay nhờ chính sách mới của Lại Linh mà tăng thêm rất nhiều.
      Lại Linh có vóc người nhỏ nhắn, linh hoạt, theo Trần Tự Khánh từ những ngày họ Trần mới dấy binh, gia đình vốn thạo nghề đánh bắt cá và canh tác nông nghiệp ở xứ Nghĩa Trụ, ngay thuở nhỏ đã thạo thông sông nước, thường cùng cha lênh đênh trên các cửa sông lớn, làm nghề hạ bạc, sau lớn lên cầm đầu một số dân phiêu tán tụ tập nhau đi đánh cướp của cải các nhà giàu có trong các xứ lân bang. Sau đôi lần chạm trán cùng cánh quân của Trần Tự Khánh trên sông Thiên Mạc, đã tình nguyện đem quân phò tá và được Tự Khánh thu phục trọng đãi, trở thành một cánh tay đắc lực của Tự Khánh, trong công cuộc khai khẩn và xây đắp khu căn cứ Nghĩa Trụ của Trần Tự Khánh và gia tộc Trần hương Tức Mặc, ông là người có công lớn trong việc thuyết phục, phân tích và gợi ra được vai trò của vị trí chiến lược tối quan trọng trên vùng đất Nghĩa Trụ với Tế Giang và với kinh thành.




3. ĐỒNG TỈNH -  HOA CẦU VÀ CÔNG CUỘC KHAI ĐIỀN TẠO THỔ CỦA LẠI LINH
Giữa vùng lau sậy um tùm, vùng đất Nghĩa Trụ nổi lên như một con mãnh xà đang vươn mình quay đầu theo vòng cung Đông bắc; Tây nam, trung tâm của doi đất hình đầu mãnh xà này là ấp Đồng Tỉnh, nơi có những đầm nước nổi tiếng nhiều cua cá và không bao giờ cạn, được Lại Linh chọn đóng làm trung tâm lị sở và phát triển các trại quân doanh theo 3 hướng đều nhau trong sơ đồ chữ tỉnh (#), (tên gọi Cửu Tỉnh bắt đầu có từ đây), và vị trí lị sở, cùng hành cung của Lại Linh đặt tại khoảng trung tâm giữa hai doanh trại quân doanh thuỷ bộ, phát triển theo hướng Đông bắc là thuỷ trại Hoa Cầu, xuôi dòng sông Nghĩa Trụ xuống mạn Tây nam là khu vực huấn luyện quân bản bộ Bảo Vực, hướng Tây là rừng lau lách với các lạch chảy tự nhiên hình thành nên những thửa ruộng mà mỡ sau mùa nước lũ.
      Ấp Cửu Tỉnh với nhiều dòng họ được chia quản lý theo các khoảnh ruộng thành từng đơn vị nhỏ tương đương các xóm ấp như, Hổ, Xá, Đình, các ấp đều có những đội quân dân binh được tập luyện chính quy nhằm tăng khả năng tự vệ và cung cấp nhân mạng cho các chiến trường sau này. Trong kiến trúc cơ sở theo sơ đồ chữ Tỉnh, Lại Linh đặc biệt chú ý chia các địa giới theo các doi đất tự nhiên, phù hợp địa thế và phong thuỷ, rất thuận tiện cho việc phối hợp tác chiến ứng cứu giữa các cánh quân và dân binh, giữa thủy binh và bộ binh, đảm bảo giao thông từ trung tâm tới các quân doanh hết sức cơ động và cơ hội tiếp cận với trung tâm thuận tiện ngang bằng nhau.
      Từ điểm cao nhìn xuống đất Cửu Tỉnh, gồm năm xóm ấp toạ trên 5 doi đất tụ lại như hình hài của bầy chiến mã đang phục quỳ chầu vào trung tâm, xét theo mặt phong thuỷ thì những doi đất này ví như những bước tường thành tụ khí tàng phong cho ngôi đất chủ, những đầm nước có mạch ngầm thông với nhau tạo thành nhiều thần long che kín, bảo vệ cho long mạch chủ tụ khí tích thuỷ mỗi ngày thêm vượng phát. Nơi đóng trị sở và hành cung của Lại Linh, trước khi bị quân triều đình và quân Đoàn Thượng triệt hạ, thì đất Cửu Tỉnh vẫn được Trần Tự Khánh chọn làm nơi đặt trị sở điều tiết quân cơ.
      Trong quy mô triển khai chiến lược lần này, căn cứ Nghĩa Trụ và trị sở Cửu Tỉnh được Trần Tự Khánh và các bộ tướng nhận định có tầm chiến lược trọng yếu liên quan đến vận thế đại cục, nên việc gìn giữ và xây dựng lâu dài căn cứ này là yếu tố sống còn, bổ trợ tiềm lực quân sự cho công tác phát triển các chiến trường chinh phạt và bành trướng thế lực, căn cứ quân sự này có tiềm năng đối trọng khống chế toàn bộ triều đình. Lần tái thiết này là hành động khẳng định rất rõ quan điểm của Trần Tự Khánh với triều đình, không còn e dè, cả nể, rất quyết đoán và cũng là lời thông báo cáo buộc sự bạc nhược, kém tài của vị vua đương triều Lý Huệ Tông trước trăm quan và thiên hạ.
Căn cứ Nghĩa Trụ với đại quân doanh thuỷ bộ ra sức chiêu tập và huấn luyện quân cơ cho các tướng suý và dân quân binh, thành sức ép lớn với triều đình và đặc biệt với thế lực của bà thái hậu khiến vua tôi nội triều ngày đêm nơm nớp lo sợ, nó như mũi tên tẩm độc chĩa thẳng vào nhân thân các vị thân vương và ngay cả bản thân vị vua đương triều vừa thức giấc trên chiếc giường chính trị đã ruỗng mọt cũng không tránh khỏi cảm giác ám ảnh đe doạ. Lại thêm tin tức cấp báo ở các chiến trường không ngớt bay về báo thảm tin khiến ông vua bạc nhược đành phải lựa chọn phương án trốn khỏi hành cung, rời bỏ kinh sư để tìm nơi nương náu tạm thời ru mình và ru trăm quan trong giấc mộng đầy ảo tưởng rằng một ngày kia, khi các cánh quân hợp lực đồng lòng cùng triều đình và thái hậu thì việc tảo thanh quân của Trần Tự Khánh chỉ là ngày một ngày hai. Những căn cứ quân sự của Trần tộc mọc lên và phát triển bành trướng mỗi ngày một rộng lớn như chiếc mụn bọc lâu ngày trong cơ thể triều đình vốn dĩ đã kiệt quệ không còn sức đề kháng là chiếc nhiệt kế đo nhiệt độ của cái cơ thể bắt đầu chết dần từng phần của triều đình nhà Lý khi ấy.    
Căn cứ Nghĩa Trụ phát huy được trọn vẹn tác dụng của nó, tuy góp phần làm lung lay tinh thần của đám quan lại, thân vương huý tử tham sinh. Nhưng với một trận đánh mang tính quyết chiến trên diện rộng của các thế lực sau khi đã hợp tụ được lại như lần hợp binh đánh lén lần trước của quân triều đình và quân của Đoàn Thượng thì căn cứ Nghĩa Trụ vẫn chưa đủ tầm để kháng cự lâu dài. Là vị tướng dày dạn trận mạc, biết rõ thực lực của quân mình tuy mạnh nhưng vẫn chưa đủ đông để đáp ứng cho nhu cầu bảo toàn, cai trị các vùng đất vừa chinh phục được. Một mặt Tự Khánh tiếp tục lệnh cho Lại Linh đốc thúc tiến hành nhanh công cuộc tái thiết mở rộng địa bàn, ổn định dân sinh và lương thực cung cấp cho toàn quân, tạm thời dưỡng binh chờ cơ tung quân đánh những trận lớn. Một mặt ông ra sức điều đình dàn hoà với triều đình, lường tránh mọi khả năng bất lợi nhất có thể xảy ra cho các cánh quân của mình.
Bằng hành động của con mèo già trước con mồi vừa bắt được, không vội vàng nghiến ngấu cắn xé, cứ nhẩn nha tung thả vồ bắt, khiến đối phương rã rượi tinh thần, mất hết phản xạ trốn chạy vì khiếp đảm, hoặc giả có còn chút sức lực để guồng chân trốn chạy giữa cuộc chơi, thì những phản xạ chạy trốn ấy cũng là vô thức, phản ánh lại tình trạng tuyệt vọng đến cùng cực của con mồi.
Để vuốt ve tính tự mãn, tự cao của đối phương, Trần Tự Khánh tự cắt tóc mình và sai người dâng cho nhà vua và tâu rõ ý mình: "Tôi thấy bọn tiểu nhơn ở cạnh vua, chúng che lấp ngăn cản các bậc trung lương, dân tình thì uất ức không biết theo đâu mà chuyển đạt thấu lên trên. Cho nên nhân đó mà (tôi tụ họp) người trong nước khởi binh đánh bọn này, cắt bỏ gốc rể của sự hiểm họa để làm yên lòng dân. Và, đến phận mệnh của vua tôi thì không dám một tí xúc phạm,lại há có cái ý quá ỷ vào việc chăm đánh dẹp đó hay sao! Chẳng ngờ là tôi đã khiến cho xa giá phải lẫn tránh chỗ khác. Tôi tự lượng biết thân tôi. Tội tôi thật đáng muôn chết. Xin bệ hạ hãy tạm nguôi cơn giận mà đưa xa giá trở về kinh sư". Một mặt Trần Tự Khánh lại sai Đàm Kinh Bang đốc xuất trăm quan chuẩn bị pháp giá để đón vua trở về kinh.
Hành động vờn vỡ của Trần Tự Khánh giống như một sợi dây quẳng ra giữa dòng nước xiết để cho vua tôi triều Lý lăn xả vào bám víu. Chỉ bằng một hành động dâng tóc, một câu nói hoà hoãn tỏ ý thần phục tung ra đúng thời điểm, đã bóp vỡ mọi ý chí kháng cự của vua tôi triều đình nhà Lý. Nhà vua muốn theo về, quần thần đều mừng rỡ. Nhưng vẫn là chữ “nhưng” đầy trắc ẩn, rất may hoặc không may cho đám người mệt mỏi bạc nhược mất hết tinh thần sau những chặng đường dài ròng rã hộ giá bên vua, trong đám lếch thếch ấy vẫn còn một cái đầu tương đối sáng suốt, quả cảm đã một mực ngăn cản bẻ gãy mọi ý định của vua bằng những hành động cương quyết – Thái hậu Đàm thị, với uy quyền và thế lực của mình trong hoàn cảnh ngặt nghèo này vẫn có thể dẫn đạo được đám người đang hoang mang mất phương hướng trên cuộc lữ hành vô định.   
Ở căn cứ Nghĩa Trụ, Lại Linh tranh thủ cơ hội hoà hoãn tập trung mọi khả năng thiên bẩm của mình cúc cung tận tuỵ hướng đạo quân sĩ một lòng luyện tập, sản xuất khí cụ, lương thực tích trữ. Trong quân doanh lúc nào cũng nhộn nhịp bóng người vào ra thưa bẩm, tiếng quân reo tập trận, ngoài cánh đồng, đầm nước tiếng gõ chèo đuổi cá vang khắp các đầm nước, tiếng dân binh í ới gọi nhau chuẩn bị nông cụ ra đồng, tiếng lưỡi mác phạt lau sậy mở rộng diện tích canh tác ràn rạt tiến sâu dần vào rừng lau sậy. Xóm ấp ngày thêm trù mật, trẻ con nô đùa quanh các trại quân. Một không khí thanh bình hiếm có giữa thời buổi loạn li, báo hiệu vùng đất Cửu Tỉnh và xứ Nghĩa Trụ đang chuyển mình vươn tới sự phát triển  đỉnh cao.(Xem tiếp bấm vào đây)