Saturday, August 24, 2013

Nguyễn Đăng Luận và Bài Thơ Lời Thề Lá Sen



 Nguyễn Đăng Luận năm 23 tuổi

Nguyễn Đăng Luận  Sinh ngày 29 tháng 5 năm 1945 tại làng Triệu Xuyên xã Long Xuyên huyện Phúc Thọ Hà Nội . trong một gia đình có 8 anh chị em, bố mẹ chuyên buôn bán chè tươi, sắn lưới, sắn thuyền ở xứ Đoài  mây trắng. Năm 1958 là học sinh duy nhất của xã Long Xuyên thi đỗ vào trường Phùng Hưng – trường PTTH quốc lập đầu tiên của tỉnh Sơn Tây . Kĩ sư  Đường Sắt .Đã xuất bản 6 tập thơ : NGÀY KHÔNG EM- NXB Thanh Niên 1991, EM- NXB Thanh Niên 1996, BÀI CA ĐƯỜNG SẮT – NXB Giao thông 1996 – Tái bản NXB Hội nhà văn 2004 ,  THƠ NGUYÊN ĐĂNG LUẬN VÀ LỜI BÌNH – NXB Văn Học 2001 (Tập thơ này hiện có trong Thư viện quốc hội Hoa Kỳ - Thư viện lớn nhất thế giới, với hơn 850 km giá sách - nơi  lưu giữ những phát minh trí tuệ của nhân loại cho các  thế hệ tương lai)  BUỔI BAN ĐẦU – NXB Hội nhà văn 2003 tái bản 2004 ,  THƠ TÌNH NGUYỄN ĐĂNG LUẬN - NXB Hội nhà văn 2007. Giải thưởng thơ Cuộc vận động sáng tác văn học đề tài GTVT (1986 – 1990). Nguyễn Đăng Luận là lớp trưởng lớp viết văn khóa 1 Hà Nội , ( Vào Google  : Nguyễn Đăng Luận lớp trưởng viết văn ) Sáng lập và làm chủ nhiệm CLB văn học Bông Hồng Vàng Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội (Tổ chức bản thảo và tài trợ xuất bản 5 tác phẩm của        
CLB ; TRÁI TIM ĐỂ NGỎ ,  BÔNG HỒNG VÀNG , DÒNG SÔNG CHÁY , NĂM NGƯỜI  ĐÀN BÀ VÀ BỐN NGƯỜI ĐÀN ÔNG , CẦU VỒNG ĐEN VÀ NHỮNG TRUYỆN NGẮN HAY – bìa các tác phẩm này có in logo CLB Bông Hồng Vàng và dòng chữ: “Nhà thơ Nguyễn Đăng Luận giữ bản quyền “.. Nguyễn Đăng Luận sáng lập và là nhà tài trợ duy nhất giải thưởng Văn Học Bông Hồng Vàng  – chế tác bằng vàng 9999 (  lần trao giải đầu tiên công bố trên báo Tuổi Trẻ số 35  ngày 28 tháng 3 năm 1995 ). Báo Tiền Phong số 43  ngày 22/10/1991 đăng bài thơ : EM của Nguyễn Đăng Luận  ( Em đã thả vào hồn tôi / Một con rắn / Một con mèo / Một con chim chiền chiện hót / Và nụ hôn đặt ở phía chân trời . ), Và đúng 1 năm sau đó  ( 10/10/1992 ) Nguyễn Đăng Luận được kết nạp vào Hội nhà văn Hà Nội. Hiện Nguyễn Đăng Luận làm Chủ biên và tài trợ  xuất bản cuốn Tân Văn –  Chuyên đề sáng tác phê bình giới thiệu văn học – NXB Hội nhà văn .     
 

Lời bình bài thơ:  

LỜI THỀ LÁ SEN 

Tháng 7, Thi nhân về quê, tới Ao Sen đầu làng...vừa mùa Sen nở lục biếc chen hồng, lòng bật lên một "Ý Xưa" (cổ ý) :
Sen lá như dù biếc
Sen hoa tựa má đào
Nhớ ai chưa gặp mặt
Thơ thẩn mãi bên ao.
    -Phù Thúc Hoành

"Ý Xưa" là lối thơ tả tình theo tứ thơ cổ, nên thường gọi "cổ ý".  Gặp cảnh sinh tình nảy ra ý thơ...với cái thói đa tình của Thi nhân xưa nay đều thế. Ở Phù Thúc Hoành (Đại Việt-đời Lê) thấy Sen trên ao mà người thì chưa thấy vẫn đẻ ra một tứ thơ lạ "nhớ ai chưa gặp mặt" rất phi lý nhưng lại thật là thơ để Thi sĩ có cái cớ "thơ thẩn mãi bên ao"...
   
Còn xưa hơn nữa, ở Bạch Cư Dị (702-846) đời Đường bên Trung Hoa, thì với "Trên ao" (Trì thượng) :
Cô em bơi chiếc thuyền con
Bẻ hoa Sen trắng lon xon trốn về
Ngây thơ chẳng biết giấu che
Mặt bèo còn rẽ lối đi rành rành...

Cái "Ý" (cái cớ, cái "cửa mở" vào thơ ) ở đây là "thâu thái bạch liên hồi"(câu 2) là Ý mới tạo ra Tứ lạ " bất giải tàng tung tích "(câu 3)...

Và hôm nay, với Nguyễn Đăng Luận về quê Sơn Tây, đến đầu làng gặp Ao Sen...thì cả một trời thơ hoài niệm- "Ý cũ" (hồi tưởng lại cả cái duyên xưa cũ càng), rồi bật lên một "khúc Kinh thi xứ Đoài - tân biên" đọc lên rõ sướng:

                       LỜI THỀ LÁ SEN

                       Lá Sen chưa kịp đi tu
         Mà hoa Cúc đã nhuộm thu  óng vàng
                     Yêu em mua cốm làng Vòng
          Nâng niu anh gói trong lòng lá Sen
                      Lời thề hôm ấy của em
         Thơm như cốm ướp hương Sen giữa mùa
                      Không ngờ, anh thật không ngờ
         Lá Sen rách. Cốm bây giờ thơm đâu?
                                   (Văn Nghệ số 16 ra ngày 22/4/1989 )

Đúng, với giọng điệu ngôn từ của "Lời thề lá Sen" thật như là một khúc 'Kinh thi Việt" thuần túy, chất liệu thơ là Ca dao lục bát thuần Việt.

Bài thơ có đủ "Tình- Cảnh -Sự" : Tình chan chứa, cảnh nhà quê rất thơ khi "hoa Cúc nhuộm thu óng vàng"; "Sự" ở đây là có sự cố, (có vấn đề) để gây vết thương lòng...

"Lá Sen đi tu" là sáng tạo độc đáo của Thi sĩ , đã nhân cách hóa cái Lá Sen (ám chỉ cái Cô Nàng) ẩn dụ như 'Lá Diêu Bông" của Thi sĩ Hoàng Cầm...Cái bi kịch là "chớm xuân mà đã thu rồi"- Lời thề của Nàng "thơm" như gió nội hương đồng nên nó bay đi (lời thề gió bay) để Chàng thật không ngờ...?

Ở trên là "Lá Sen...đi tu" (mở), kết là "Lá Sen rách" - trên "tu"/ dưới "rách" đối chọi nhau, coi như 2 "chữ mắt" (nhãn tự) được Nhà thơ đặt ở vị trí (đầu/ cuối) rất đắc địa làm tỏa sáng cả câu thơ, gây âm vang trong lòng người đọc...

Câu 5+6 tạo ra một tứ thơ khá đắt -  mà tứ thơ là cái ĐẸP toát ra từ chữ nghĩa, ý tưởng và nhạc điệu- Nó hàm ẩn đủ tư tưởng (sợi chỉ đỏ),ngôn ngữ cùng "thi trung hữu nhạc". Nó là hình tượng thơ diễn đạt được một ý trọn vẹn. Ý đẻ ra Tứ...Đây chính là đặc sản của tâm hồn Thi nhân với một "Thi cách" riêng là thế. Nó là rường cột kết cấu nên bài thơ, làm nổi bật chủ đề của bài thơ (chứa đựng triết lý sâu sắc, nội dung có tầm bao quát lớn), cốt lõi (thành tựu) của bài thơ chốt ở 2 câu :
Lời thề hôm ấy của em
Thơm như cốm ướp hương Sen giữa mùa
đã tạo ra một Tứ thơ ĐẸP để đi đến cái "kết" hẫng hụt...bây giờ
thơm đâu ? Đau/ mất mát , nhưng không bi lụy- tâm hồn vẫn trong sáng thanh thỏa như hồn chàng Thi sĩ chốn chân quê, kiểu "hôm qua em đi tỉnh về..."

KẾT: bài thơ Hay thật, nhưng chưa toàn bích ! phải chăng do Nhà thơ quen làm theo lối tự do, không câu nệ niêm luật nên chưa chú ý về phép luyện chữ, ghép vần của thơ lục bát truyền thống do đó việc chọn "từ" (chữ) chưa thật vần, còn lặp từ như vàng/ vòng, câu 4 đã "Sen" xuống câu 6 lại "Sen"...?

Tuy vậy, điều nổi bật là bài thơ này có "Thi cách Nhà quê" (đạt); "Ý" tuy không mới nhưng lại tạo được Tứ lạ...đó là bữa tiệc tâm hồn của riêng Nguyễn Đăng Luận. Cái làm nên bài thơ HAY ở đây là khởi từ một ý thơ sâu sắc (dù là Cổ Ý) nhưng với tâm hồn thơ sung mãn, đang độ chín, Nguyễn Đăng Luận gặp cảnh (cũ) sinh  tình (nhớ Nàng xưa) đã bật ra một Tứ thơ để bạn bè nhớ mãi khó quên.   


                                                                                
Góc Thành Nam - Hà Nội 10-10-2011
Nguyễn Khôi- cẩn bút...
(Bài do tác giả gửi đăng).



Friday, August 9, 2013

Trần Đình Sử: NGHỀ VĂN KHÔNG SANG TRỌNG

Nghề văn không sang trọng 
Trần Đình Sử











Cách đây không lâu có người cao hứng tung ra một ý kiến ngộ nhận: “Nghề văn là nghề sang trọng.” Bao nhiêu người nói theo. Thế rồi ảo tưởng, hiếu danh, thế rồi số người viết văn, làm thơ tăng vọt, thế rồi số hội viên hội nhà văn ngày một tăng. Người sắp hàng chờ vào hội cũng rất đông.

Tôi không có ý phản đối ai làm nghề văn, tôi cũng không nghĩ rằng mọi người vào hội đều háo danh. Tôi chỉ muốn nói nghề văn không phải là nghề sang trọng, nhất là vào thời hiện đại.

Ngộ nhận đó có thể bắt đầu từ một thời văn chương là thú vui nhàn hạ của tầng lớp quan lại, áo mũ xênh xang, là nghề làm đẹp các sinh hoạt của giai tầng quý tộc, được tài trợ hậu hĩnh, là nghề may ra có thể có tác phẩm để đời (để khoe khoang cùng người sang trong họ, ngoài làng, thỏa mãn tâm lí hiếu danh). Người ấy có thể không biết, từ ngày xưa, văn chương của kẻ đã ở vào lầu son gác tía thường không hay bằng văn chương của kẻ ở lều tranh, đồng vắng.

Bước vào thời xã hội tư sản, kinh tế thị trường phát triển, Walter Benjamin trong sách Nhà thơ trữ tình trong thời đại tư bản phát triển (1973), chuyên nghiên cứu thơ Baudelaire, phát hiện ra bài thơ Rượu của những người nhặt rác (nhà thơ Vũ Đình  Liên dịch là “người nhặt giẻ”) có những câu sau:
Một ông lão nhặt rác bước qua, ngật ngưỡng cái đầu,
Chân vấp hè, trán húc tường như một chàng thi sĩ, 
Chẳng thèm nhìn cả bầy cớm như đầy tớ theo sau,
Dốc cả tâm hồn vào những mưu đồ hùng vĩ.

Thét to những lời thề, ban bố những luật thiêng,  
Quật ngã kẻ bạo tàn, nâng dậy gười oan ức,
Dưới cái tán mênh mông của bầu trời đêm,
Lặng lẽ say sưa của mình những hào quang đạo đức.

Phải những con người hàng ngày cuộc sống giày vò,
Sớm tối mệt nhừ, trĩu vai tuổi tác,
Đầu ngập, lưng còng dưới cái đống rác khổng lồ,
Mà Paris mênh mông, ngày đêm khạc mửa.[1]  
Khác với các nhà văn lãng mạn ở Việt Nam, mỗi khi nói đến Baudelaire thì chỉ nhớ đến nguyên tắc tương giao giác quan,  Benjamen[2] đã qua nhà thơ Pháp mà vẽ ra thân phận nhà văn trong xã hội tư sản. Ông ví nhà văn nhà thơ như người nhặt rác, bất cứ cái gì mà xã hội tư sản thải ra, vửt bỏ, khinh bỉ, xéo nát dưới chân họ đều nhặt nhạnh, thu gom. Họ như người làm nghề đồng nát, từ trong rác thải nhặt nhạnh lưu giữ những gì còn có giá trị và tái chế. Nhà thơ còn tìm ra các căn bệnh xã hội, tìm cách cứu chữa. Xã hội công nghiệp, thị trường đã làm đổi thay bậc thang giá trị, biết bao cái có giá trị đã bị vứt ra đường như là rác rưởi. Họ giống đám du thủ du thực, đi lang thang qua đầu đường xó chợ như người Bohemiên, bao gồm cả đĩ điếm, sống như những người vô gia cư, vô sản, nhưng trong cuộc lang thang họ biết tự ý thức và phát hiện ra cái mà xã hội bỏ qua.  Họ đồng tình với những ai làm lung lay nền tảng của xã hội tư sản. Ví von của Benjamin còn cho thấy, Họ ít nhiều đều sống cuộc đời bữa no bữa đói, đứng ở địa vị thấp kém mà phản kháng xã hội. Đã làm nghề nhặt rác thì chẳng có gì sang trọng, nhưng không thiếu sự dũng cảm và kiêu hãnh cũng như thách thức. Là người nhặt rác, Baudelaire đã sáng tạo ra Hoa ác, các nhà văn hiện đại tạo ra văn học phi lí, những thứ mới đầu nhiều người cứ tưởng là rác.

Ở Việt Nam, khi chuyển vào kinh tế thị trường đầu thế kỉ XX, cậu ấm Hiếu tài hoa, một “anh hồn” làm chủ soái văn đàn, sinh thời suốt ngày chỉ lo văn ế. Xuân Diệu thấy cơm áo không đùa với khách thơ. Các nhà văn chỉ là kiếp viết mướn nghèo nàn, tội nghiệp. Vũ Trọng Phụng đã nhặt được bao nhiêu rác qua Số đỏ, Vỡ đê, Giông tố và các phóng sự bất hủ của ông. Nhưng họ chính là những người đầu tiên dựng xây nền văn học hiện đại đích thực của một dân tộc bằng chữ quốc ngữ, cái văn học phần lớn đã từng bị vứt vào sọt rác mấy chục năm trời.

Bước vào thời đại cách mạng, nhà văn trở thành chiến sĩ, tay cầm kiếm, cầm dao, thơ văn là tạc đạn, bom mìn, lấy cán bút làm đòn xoay chế độ, tự nguyện làm lỗ tai, con mắt của giai cấp, làm người lính gác ngăn chặn diễn biến hòa bình. Như thế thì thân phận công cụ cũng chẳng lấy gì làm sang trọng. Tuy đã làm chiến sĩ, nhưng thân phận trí thức, nghệ sĩ lại luôn luôn ở vào địa vị bị cảnh giác như những kẻ có thể gây rắc rối cho trật tự xã hội và tư tưởng thì từ trong bản chất lại càng chẳng có gì sang trọng cả. Những năm chiến tranh, nhà thơ Xuân Diệu đã hàng trăm lần đi nói chuyện thơ cho các tầng lớp cán bộ công nhân viên nghe. Đi đâu ông cũng yêu cầu bố trí phông màn cho sáng đẹp và dặn dò quan tâm bữa ăn cho có đủ calo. Nhà văn Hoàng Ngọc Hiến khi còn dạy học ở Đại học sư phạm Vinh, có lần cùng chúng tôi đến thăm nhà một học trò, được gia chủ làm gà tiếp đãi. Khi mâm được dọn ra, ông dơ hai tay làm điệu bộ ôm trọn cả mâm và nói đùa: Các cậu có dám thách đố một mình tớ ăn hết cả mâm này không? Mọi người đều cười vui, không ai chấp nhận thách đố cả. Tất nhiên nhà văn cách mạng không làm cái việc nhặt rác. Họ bị cấm nhặt rác, như trường hợp Nguyễn Công Hoan trong Đống rác cũ và nhiều người khác. Họ có trọng trách nhặt các tấm gương, những nhân tố tiên tiến trong xã hội để làm ra những hình tượng sáng ngời, có tác dụng giáo dục nhân dân quần chúng tiến lên chủ nghĩa xã hội, mặc dù thân phận họ vẫn thấp kém. Xin được nói thêm, văn chương  ở đất nước trải qua nhiều cuộc chiến tranh giữ nước, ngoài những tấm gương người tử tế, không thể quên số phận của những con người giữ nước .

Nhà văn hôm nay, khi xã hội đã chuyển sang kinh tế thị trường, phấn đấu để được các nước phương Tây công nhận cho Việt Nam là kinh tế thị trường, hệ giá trị đã hoàn toàn thay đổi, thì nhiệm vụ văn chương cũng có thay đổi. Rác rưởi tràn ngập khắp nơi, từ trung ương đến địa phương, từ nông thôn đến thành thị, từ kinh tế đến văn hóa, từ trường học đến chùa chiền, từ trong nước ra ngoài nước, đâu có người Việt Nam thì ở đấy có rác. Thời cơ mới của nhà văn Việt Nam đã đến. Nhà văn vẫn là người nhặt rác. Walter Bejamin đâu có ngờ cái ví von của ông đã khắc họa rõ nét chính xác chân dung nhà văn của thời đại mới. Ông đâu có ngờ ở cái đất nước xa xôi mà có thể sinh thời ông không hề biết, kiếp nhà văn ở đâu cũng thế thôi. Họ nhặt rác để kiếm ăn, dể bảo lưu giá trị văn hóa, dựng xây xã hội, phản kháng bất công từ một địa vị thấp.

Nghề văn có gì sang trọng đâu. Nếu có được tâm hồn trong sáng, có tài năng thật sự, sáng tác được ít nhiều tác phẩm có giá trị, không cơ hội, vụ lợi, họ có thể được coi là nhà văn cao quý. Văn chương rất cần sự cao quý nhưng không cần sang trọng.

Hà Nội, 3 – 8 – 2013




[1] Thơ Baudelaire, Vũ Đình Liên dịch, nxb. Văn học, Hà nội, 1995, tr. 157. 
[2] Walter Benjamin ( 1892 – 1940), nhà nghiên cứu, phê bình văn học Đức, gốc Do Thái, sinh ở Berlin trong một gia đình giàu có, từng tham gia phong trào văn học cấp tiến, tham gia nhóm xã hội học Frankfurt. Sau khi viết luận văn Cội nguồn bi kịch Đức, không được trường phái này chấp nhận, ông chuyển sang Pháp, sống ở Paris. Năm 1940, Đức quốc xã chiếm Pháp, ông bỏ trốn mà không thoát, đã tự sát. Toàn bộ tác phẩm của ông đều được in sau khi chết.

Saturday, August 3, 2013

MỚI VÀ CŨ - THƠ CÒN NGUYÊN NỖI NIỀM TRĂN TRỞ

Thơ Quảng Ninh hôm nay, dưới góc nhìn của các nhà thơ

(http://www.cinet.gov.vn/ArticleDetail.aspx?articleid=18887&sitepageid=47)
Có lẽ không ai hiểu về thơ Quảng Ninh hơn chính những nhà thơ của Quảng Ninh. Trò chuyện cùng họ, chúng tôi hiểu, đằng sau những điều các tác giả thơ Quảng Ninh nói ra là rất nhiều trăn trở của họ về thơ và tác giả thơ Quảng Ninh. Bên cạnh đó là tâm huyết mà các tác giả muốn gửi gắm về một sự thay đổi trong thực trạng thơ Quảng Ninh còn chưa có nhiều thành tựu và sự đột phá trong làng thơ cả nước hôm nay...
Nhà thơ TRẦN NHUẬN MINH
Đã có một thời, thơ Quảng Ninh được cả nước chú ý. Vì sao? Vì sau mỗi chùm thơ, thậm chí chỉ sau một bài thơ đăng trên báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, người đọc hiểu nghề, các nhà thơ hay các nhà phê bình văn học, nhận ra từ những người làm thơ ở Quảng Ninh, đã xuất hiện một tác giả, hứa hẹn có khả năng trở thành một tác gia trong một tương lai hoặc gần hoặc xa. Vài năm gần đây, thi thoảng lắm, người đọc mới thấy có một hai bài thơQuảng Ninh trên báo Văn Nghệ. Có lẽ các bạn đang lùi lại, tự che khuất mình đi, để làm các tác phẩm ra tấm ra miếng chăng?
Về lực lượng, thơ Quảng Ninh hôm nay có một đội ngũ đông đảo.Trước hết là những Hội viên thơ của Hội Văn Nghệ tỉnh đã cao tuổi với sự từng trải trên các trang viết và các em học sinh ở các trường THPT trong các CLB sáng tác trẻ. Tác phẩm của các em thường mang tâm trạng, tình cảm, những âu lo của lứa tuổi mới bước vào đời. Nhưng càng bước vào đời, các emcàng xa thơ. Nhiều em tỏ ra có triển vọng, từng đoạt các giải cao của thơ trẻ trong tỉnh dăm mười năm trước, giờ không thấy tăm hơi thơ ở đâu. Cho nên về tổng thể, thơ Quảng Ninh là thơ già.
Từ nhiều mảng sống, nhiều vùng quê, nhiều lứa tuổi, thơ Quảng Ninh phong phú chất sống thực, khoẻ khoắn về tình cảm, vững vàng về tư tưởng, thể hiện rất rõ trách nhiệm công dân của ngòi bút, hài hoà giữa chính trị và nghệ thuật. Đó là sự già dặn rất đáng hoan nghênh.
Người làm thơ Quảng Ninh có thể là công nhân hoặc không phải là công nhân, nhưng tôi vẫn nhận ra chất công nhân tác độngrất rõ vào tư duy và xúc cảm của người viết, tạo nên một phong thái riêng, khiến thơ Quảng Ninh không giống các tỉnh khác. Thơ chân thành, bộc trực, khoẻ khoắn, theo xu hướng ngợi ca, nhiều bài sâu sắc và tâm huyết. Điểm mạnh ấy của thơ Quảng Ninh cũng gắn với điểm yếu là tốc độ chậm, nặng về tường thuật, trần thuật, giải thích và ít đột biến. Cái đó thể hiện một tư duy ổn định, ít tiếp thu những trào lưu mới. Nếu không lưu tâm đến điều này, mình sẽ trở thành một vùng biệt lập và những thành tựu đã có trước đây rất dễ bị bạn đọc quên lãng. Những cái mới, các trào lưu văn học lớn của cả nước, đặc biệt là sự chuyển động tốt đẹp và mới mẻ của thơ Việt Nam đầu thế kỷ này, dường như không hề tác động đến thơ Quảng Ninh.Nhìn về phương diện xã hội hoá thì thật đáng mừng, nhưng nhìn ở góc độ chuyên nghiệp hoá để tạo ra thành tựu nghệ thuật thì thực đáng lo… 
Nhà thơ NGUYỄN CHÂU
Cái nhìn thấy đầu tiên của thơ Quảng Ninh là dấu ấn vùng đất đã thể hiện được. Hình như, tất cả sáng tác đầu tiên của các tác giả thơ Quảng Ninh đều hướng về mục tiêu vùng đất con người trong tỉnh. Viết vậy có cái được là các mặt truyền thống như than, núi rừng Đông Bắc... được thể hiện rất rõ nét với đặc trưng là tả nhiều hơn cảm. Do vậy nên thơ Quảng Ninh có bề rộng mà không có bề sâu, có bề nổi mà không có bề chìm. Nhiều những cây bút thơ trong tỉnh đã có các tập thơ riêng, góp vào cho thơ Quảng Ninh, người Quảng Ninh những gương mặt hiền hậu của thơ. Những gương mặt đó hiền lành và giản dị mà không có các nét độc đáo, chấm phá, thiếu chiều sâu, thiếu nội tâm. Người tỉnh ngoài nhìn vào thơ chúng ta chỉ thấy được vùng đất - con người Quảng Ninh mà không nhìn thấy được nỗi lòng, tâm trạng của người Quảng Ninh.
Theo tôi, cái hay của thơ không phải là ở chỗ viết về đề tài gì mà nằm ở cái sâu lắng, sự rung động và bứt phá trong tình cảm của từng người. Vấn đề này thơ Quảng Ninh chưa làm được, dẫn đến không có những tác giả, những tập thơ thật sự xuất sắc khiến bạn đọc trong cả nước phải chú ý. Cá biệt là nhà thơ Trần Nhuận Minh đã nói được những điều bạn đọc mong mỏi. Ông đã dám thử sức tự đổi mới mình
2 lần. Trong tập thơ Nhà thơ và hoa cỏ thiên viết về thân phận người lao động, những tầng lớp khó khăn, thấp bé trong xã hội, những nỗi niềm của họ. Sau đó, những năm vừa rồi, ông đã bỏ qua cách viết này và thể nghiệm cách mới trong tập Bản Xônát hoang dã. Có thể đây là một mốc chuyển biến của thơ Quảng Ninh, gợi ý cho những cây bút thơ Quảng Ninh tiếp tục sáng tạo để bứt phá trong thơ mình cả về nhịp điệu và nội dung thơ.
Dường như, các tác giả thơ Quảng Ninh không chịu đổi mới hoặc không đủ điều kiện để đổi mới. Nhiều bài thơ tôi thấy tác giả chỉ quan tâm đến vấn đề thơ thể hiện mà không quan tâm đến việc cách tân hình thức thơ. Hiện nay, những người làm thơ trẻ Quảng Ninh xuất hiện trên tờ Báo Hạ Long là chính. Nhưng thơ của họ vẫn còn ở mức độ giản dị đến đơn giản và không đủ sức đi tiếp. Họ chưa đủ kiến thức về đời sống và về thơ để có thể làm một sự cách tân trong thơ Quảng Ninh. Hiện nay, những người thích làm thơ nhất của chúng ta vẫn là các cụ về hưu. Có thể mươi năm tới, thơ Quảng Ninh cũng không tiến triển được vì thiếu đội ngũ kế tiếp...
Tác giả TẰNG A TÀI
...Nhìn quanh mình, tôi thấy tác giả thơ trẻ còn ít quá. Mà đếm sự say mê thì càng ít hơn, tiêu biểu chỉ thấy như Nguyễn Thị Nguyệt (Hoành Bồ), Trần Xuân Đạt (Uông Bí). Tôi thích giọng thơ mới của Xuân Đạt, có cái ảo, có tư duy chiều sâu, đáng suy ngẫm. Tìm cách để đổi mới trong thơ Quảng Ninh, tôi nghĩ là một nhu cầu tất yếu, nhất là lớp tác giả trẻ. Nếu không, ngày nào cũng tư duy theo lối ấy, nói câu ấy thì ngay chính tác giả cũng thấy nhàm chán. Nhưng vấn đề là đổi mới như thế nào để vừa mới lạ, lại không xa hiện thực, không xa chức năng cơ bản của thơ. Câu hỏi ấy chính tôi cũng chưa tự giải đáp để tìm lối thoát cho thơ mình được. Tôi cũng từng thử viết theo lối mới nhưng dường như không được thành công như thơ truyền thống.
Thật ra, lớp trẻ Quảng Ninh mê làm thơ cũng không ít, nhất là trong các trường học, chỉ có điều là sau khi rời ghế nhà trường, liệu mấy người còn giữ được sự đam mê với thơ? Tôi nghĩ cần tạo ra môi trường hoạt động thuận lợi cho họ vì chúng ta biết rằng, hiếm người sống được bằng thơ. Ngoài thơ ra, họ đều có một công việc khác để làm nên việc sắp xếp thời gian để tìm hiểu về thơ và đi sáng tác lại càng khó hơn. Tất nhiên, việc sáng tạo thơ là của mỗi người, viết theo cảm xúc thì viết được nhưng tôi chắc là chỉ vậy thôi, thơ không đi xa khỏi lòng mình được. Muốn vươn xa đòi hỏi phải có tầm nhìn, có điều kiện mở mang tri thức, đi nhiều, biết nhiều và ngẫm nhiều thì mới có thơ hay, vươn xa được. Cần thiết phải tạo ra môi trường cho những người sáng tác thơ. Cần có một chính sách cụ thể chứnhư bây giờ, chúng ta chỉ đầu tư phần đuôi, tính lúc hái quả thôi. Có tác phẩm rồi mới hỗ trợ in sách chứ chưa tính đầu tư từ đầu, từ lúc phải trồng cây...
Nhớ lần đi dự Hội nghị những người viết văn trẻ tại Quảng Nam tháng 8-2006, tôi thấy lực lượng trẻ đã có ý thức cố kết thành từng nhóm, hội để có một diễn đàn riêng. Các thành phố lớn môi trường rộng không nói làm gì, họ có thể tự một mình một ngựa vừa sáng tác vừa tự bỏ tiền in thơ được. Còn ngay như Tiền Giang còn có hẳn một trang Web thơ trẻ làm diễn đàn cho các cây viết cũng do một tác giả thơ trẻ làm ra. Làm được điều đó bắt đầu phải có sự quan tâm của chính quyền, Hội... Quảng Ninh thì chỉ lác đác có một vài tác giả trẻ chưa cố kết được thành một tập thể. Ban sáng tác trẻ của Hội VHNT tỉnh lập ra mấy năm nay cũng chưa có hoạt động gì. Nhìn các bạn đổi mới ầm ầm, tôi càng thấy chạnh lòng buồn hơn cho chính mình nói riêng và thơ trẻ Quảng Ninh nói chung.
Tác giả Lại Tuấn Hiền
Điều tôi trăn trở là thơ mình viết ra liệu có ích lợi gì không. Càng đi sâu vào kinh doanh, tôi càng thấy đời sống nhiều bế tắc hơn. Vậy thì làm thơ gì, ca ngợi gì, làm thơ sao cho có ích lợi? Trả lời câu hỏi này tôi thấy bế tắc lắm. Tôi thích thơ Triệu Nguyễn, Thanh Sỹ, Lê Hữu Lịch. Thơ của Nguyễn Thị Nguyệt là tác giả trẻ mà sao thơ hiền lành quá, giá như quyết liệt hơn một chút thì tốt. Thơ Trương Thiếu Huyền không dễ đọc nhưng khá ám ảnh. Hiện nay, Quảng Ninh cũng có một trào lưu làm thơ Đường luật nhưng tôi nghĩ thể thơ này dường như không đủ sự truyền tải mạnh mẽ trong nhịp sống hiện đại hôm nay. Nhìn quanh mình, các cây viết cũng chủ yếu là tác giả thơ già còn thơ trẻ thì ít quá. Thơ phải thay đổi đi chứ chủ yếu tôi thấy cứ như ăn mãi một món ăn sao nhàm quá. Trong trào lưu ấy tôi nghĩ, thơ mình làm ra liệu có ai đọc không hay chỉ bạn thơ đọc với nhau, có ích lợi gì cho xã hội không?
Báo chí của tỉnh mình nhiều khi ngại đăng một số loại thơ nhưng tôi nghĩ giá như có những hơi thở mới cũng khiến báo mới hơn. Lúc nào cũng là thơ ca ngợi ư trong khi không đáng ca ngợi. Thơ Quảng Ninh tôi thấy có lối viết hơi phóng sự. Sự mềm mại, bóng bẩy, sự lãng mạn còn hơi ít...
Tác giả NGUYỄN THỊ NGUYỆT
Quảng Ninh mình có nhiều nhà thơ mà tôi rất khâm phục như Trần Nhuận Minh, Triệu Nguyễn, Nguyễn Châu, Bùi Hữu Thiềm, Yên Đức, Hoàng Hoà... Họ là niềm tự hào về người và thơ Quảng Ninh trong tôi. Hiện nay, nhịp sống nhanh hơn, lớp trẻ ít có thời gian chú ý đến thơ. Độc giả về thơ không nhiều lắm. Tình cảm về thơ không nhiều nhưng những ai đã yêu thì yêu hết mình và say mê. Tôi là một trong số đó, say mê nhiều lúc cảm thấy thiếu thơ thì cuộc sống giảm đi nhiều ý nghĩa. Tôi mới chỉ là người đi ngang qua thơ thôi, thơ tôi phần lớn mới chỉ là cảm xúc cá nhân. Không biết các tác giả thơ trẻ khác của Quảng Ninh thế nào, nhưng chắc thơ có được thêm những cảm xúc chung khác, nói được tiếng nói chung của mọi người thì sẽ tồn tại được lâu hơn.
Hiện nay, có những loại thơ không vần, không nhịp điệu, tôi nghĩ là rất may thơ ấy chưa đến Quảng Ninh mà có đến tôi nghĩ cũng chưa chắc đi vào đời sống người Quảng Ninh được. Thơ tôi viết về những điều giản dị, gần gũi. Nếu viết hiện đại quá thì có lẽ tôi không viết được. Các nhà thơ đổi mới cũng là điều đáng trân trọng nhưng theo tôi nên theo hướng khiến con người sống tốt đẹp hơn. Còn nếu sống theo những bài thơ viết theo lối mới, tôi thấy cuộc sống ấy xô bồ quá. Những thể thơ mới không vần điệu, có hiện tượng bật lên như Vi Thuỳ Linh chẳng hạn cũng hiếm. Còn để phê phán thì tôi thấy chưa đến mức ấy. Chỉ có điều, tôi vẫn thích hơn những bài thơ giữ được sự tế nhị, dịu dàng, kín đáo của người Việt Nam truyền thống.
Tôi cũng thấy, một số tác giả hiện nay cứ cố để có thơ chứ không nghĩ thơ đi vào lòng người thế nào, thơ có tồn tại hay không. Như từ khi có cây cầu Bãi Cháy thì có một trào lưu thơ của Quảng Ninh sáng tác về nó. Tôi nghĩ, các tác giả không nên làm thơ kiểu chạy đua để có thơ đăng hoặc có bài cho mọi người biết...
(Theo BQN)

Friday, August 2, 2013

KHI HƠI TIỀN LÀM MỜ MẮT, HỌ CÓ THỂ LỪA ĐẢO CẢ CÁC BẬC CHA ÔNG

"Nhà báo - nhà thơ" Đăng Hạ và các chiêu lừa

 


"Nhà báo - nhà thơ" Đăng Hạ


"Nhà báo - nhà thơ" Đăng Hạ và các chiêu lừa

 

Đăng Hạ là ai?



Đăng Hạ tên thật là Ngô Văn Khích, sinh năm 1984, quê Thanh Hóa, nơi đăng kí hộ khẩu thường trú: Số 1, ngõ 31/2, đường Phan Trọng Tuệ, thị trấn Văn Điển, Hà Nội. Từ năm 2008, Ngô Văn Khích thành lập một số công ty TNHH tư nhân: Công ty Cổ phần Phát triển Truyền thông thương hiệu Việt, Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Thanh Phát (sau đổi thành Công ty Cổ phần Dịch vụ và Tư vấn Thành Phát) lấy danh nghĩa Công ty Thành Phát để ra quyết định thành lập CLB sáng tác VHNT Việt Nam (ngày 20/6/2009). CLB lấy địa chỉ nơi ở của Ngô Văn Khích làm trụ sở hoạt động, đăng kí hòm thư tại bưu điện quận Hai Bà Trưng (Hà Nội) số 811 đường Giải Phóng) để nhận thư từ, tài liệu, tác phẩm...

Đăng Hạ (Ngô Văn Khích) chưa từng làm ở tờ báo nào, cũng chưa cộng tác cho một tờ báo nào thường xuyên, chưa được cấp thẻ nhà báo và cũng không là hội viên Hội Nhà báo Việt Nam. Vậy mà Đăng Hạ đi đâu cũng được các chi nhánh CLB sáng tác VHNT Việt Nam ở các tỉnh, thành phố trịnh trọng giới thiệu là “nhà báo - nhà thơ” Đăng Hạ. Mặc dù Đăng Hạ chưa phải là hội viên Hội VHNT cấp tỉnh, thành phố nào mà luôn tự xưng mình là nhà thơ. Trong các thẻ hội viên CLB sáng tác VHNT Việt Nam, kí các chứng chỉ Kỉ niệm chương, Bằng khen, Giấy khen, giấy mời họp, giấy giới thiệu, các quyết định kỉ luật, khen thưởng cho đến các-vi-dít… Đăng Hạ đều ghi cụm từ: "Nhà thơ - Nhà báo" Đăng Hạ.

Ai yêu thơ thì Đăng Hạ "chém"

Với quy chế kết nạp hội viên hết sức lỏng lẻo và dễ dãi, chỉ cần có 2 bài thơ gửi tới CLB, đóng góp phí nhập Hội và Hội phí hằng năm, nên chỉ trong một thời gian ngắn cái gọi là "CLB sáng tác VHNT Việt Nam, đã phát triển được 15 chi nhánh ở các địa phương, trong đó có Hà Nội, Hưng Yên, Phú Thọ, Nam Định, v.v… Theo một thành viên dự cuộc họp trù bị đại hội CLB sáng tác VHNT Việt Nam sáng 7/7/2013 tại nhà Đăng Hạ: Tính đến tháng 7/2013 câu lạc bộ đã có 4.500 hội viên, hầu hết là những người về hưu, có hội viên ngót 90 tuổi. Ở tuổi này một số cụ yêu thơ, làm thơ thay cho đánh tổ tôm, chơi cờ. Các cụ có lương hưu, đời sống ổn định. Có cụ con cháu khá giả hỗ trợ tài chính cho bố in thơ, tuy không phải tiền chùa mà tiền con, tiền cháu nên in thơ vô tư. Bề ngoài CLB sáng tác VHNT Việt Nam hoạt động ra vẻ "phong trào", nhưng bên trong Đăng Hạ làm nghề kinh doanh thơ phú. Trong nhà Đăng Hạ có máy in màu, máy in đen trắng. Các hội viên của Hạ muốn in thơ đều phải qua “nhà in” này. Đăng Hạ vừa biên tập, viết lời giới thiệu tán tụng vừa lo giấy phép. Tất cả các khâu này ông ta "ăn" đậm, "chém" đau các cụ.
Chém các cụ như thế chưa “đã”, Đăng Hạ còn “chém” bằng các thủ tục hành chính, thi đua, khen thưởng. Mỗi Kỉ niệm chương Hạ thu 150.000 đồng, một Bằng khen 500.000 đồng, một con dấu cấp cho các chi nhánh thu 460.000 đồng, thẻ hội viên thu 100.000 đồng, Hội phí mỗi năm 50.000 đồng/người…

Mỗi kì "CLB sáng tác VHNT Việt Nam" họp hành, đại hội, Đăng Hạ đều nhận tài trợ của các chi nhánh. Hằng năm, Đăng Hạ còn tổ chức các cụm thi thơ… cũng mời vài nhà thơ hội viên Hội Nhà văn Việt Nam sang chấm. Dĩ nhiên, Hạ vận động 15 chi nhánh tài trợ, còn các cá nhân thì vô tư, ai ủng hộ bao nhiêu cũng được. Có điều lạ, ai muốn đoạt giải cao thì góp nhiều tiền, tiêu chí này Đăng Hạ chỉ nói nhỏ, rỉ tai với người hám giải. Ví dụ muốn được giải C phải nộp cho Hạ 10 triệu đồng, v.v...

"Đánh sập mà vẫn giãy"…

Trước hoạt động lùm xùm ở Chi nhánh Phú Thọ, một số thành viên làm đơn gửi các cơ quan chức năng. Cơ quan An ninh Chính trị Nội bộ thuộc Công an Phú Thọ vào cuộc. Ngày 5/2/2013, Công an tỉnh Phú Thọ có công văn số 33/CAT-ANCTNB gửi Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; Sở Nội vụ; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Hội Văn học Nghệ thuật Phú Thọ yêu cầu bà Nguyễn Thị Ánh Thu, Chủ tịch CLB sáng tác VHNT Phú Thọ phải ngừng hoạt động, thu hồi con dấu. Bắt nguồn từ đây, Công an tỉnh Phú Thọ làm việc với cơ quan nghiệp vụ của Bộ Công an, được biết hoạt động của CLB sáng tác VHNT Việt Nam (mà Đăng Hạ khởi xướng) đã có những sai phạm sau đây:

- Không được sự cho phép của cơ quan chức năng, tự thành lập các chi nhánh CLB hoạt động trên phạm vi toàn quốc, vi phạm Nghị định 45/2010/NĐ-CP của Chính phủ về quy định tổ chức hoạt động, quản lí Hội;
- Khắc, sử dụng con dấu "CLB sáng tác VHNT Việt Nam" và con dấu các chi nhánh CLB ở địa phương trái phép, vi phạm nghị định của Chính phủ về quản lí và sử dụng con dấu.
- Tổ chức in ấn, xuất bản, phát hành các ấn phẩm thơ trái phép;
- Thu hội phí trái phép;
- Tổ chức in, trao Bằng khen, Kỉ niệm chương trái phép, vi phạm Luật Thi đua - Khen thưởng.
Bắt đầu từ 5/2/2013 CLB sáng tác VHNT Việt Nam đã ngừng hoạt động theo chỉ đạo của Bộ Công an, Đăng Hạ phải tự giải tán, có trách nhiệm thông báo cho 15 chi nhánh, nhưng không thực hiện, vẫn tiếp tục Đại hội theo dự kiến vào ngày 13/7/2013. Ngày 7/7/2013 Hạ cho họp BCH mở rộng và lập danh sách BCH mới 28 người trong đó có bà Nguyễn Thị Ánh Thu (bà Thu đã có công văn số 33 ngày 5/2/2013 cho ngừng hoạt động) ở Phú Thọ.

ông Bùi Quốc Chiến tố cáo: Những hội viên bị sa thải ở nơi này lại đến CLB nơi khác cũng được Hạ cho tái kết nạp, miễn có nhiều hội viên để Hạ có nhiều khoản thu. Đăng Hạ sử dụng 2 con dấu, dấu tròn và dấu bầu dục để hoạt động.
Suốt từ năm 2009 đến 6/2013, Đăng Hạ đã vơ vét hàng tỉ đồng tiền của hội viên, chưa kể bịp các loại ấn phẩm, tiền tài trợ đóng góp của hội viên?
Lê Hồng Thiện

(Nguồn: Báo Người cao tuổi)







Nhân danh thơ để lũng đoạn …thơ?



 THƯ NXB VĂN HỌC GỬI:

                               Kính gửi: Nhà văn Phong Điệp.

Vừa qua, trên trang phongdiep.net có đăng bài viết của Phan Chính với nhan đề “Khó chấp nhận đối với người sáng tác!”, trong đó đề cập đến việc tập thơ La Gi biển nhớ của tác giả Hải Đăng (do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2013) có rất nhiều câu thơ “nhập nhằng” “trùng lặp câu chữ, ý thơ, thậm chí nguyên si gần trọn câu” của các nhà thơ nổi tiếng. Trước hết, Nhà xuất bản Văn học xin chân thành cảm ơn nhà văn Phong Điệp đã kịp thời thông tin và có ý kiến phê bình hết sức thẳng thắn, khách quan đối với những ấn phẩm của Nhà xuất bản Văn học.

Tuy nhiên, sau khi rà soát lại quy trình biên tập và liên kết xuất bản, Nhà xuất bản Văn học phát hiện thấy không hề tổ chức biên tập, liên kết và cấp Quyết định xuất bản cho cuốn sách này. Nhà xuất bản Văn học còn được biết cuốn sách hiện đang được tuyên truyền và phổ biến rộng rãi. Nhà xuất bản Văn học sẽ có ý kiến chính thức với các cơ quan chức năng về vấn đề này.

Một lần nữa xin chân thành cảm ơn nhà văn Phong Điệp đã kịp thời thông tin để Nhà xuất bản Văn học phát hiện và có ý kiến phản hồi đối với những ấn phẩm mạo danh nhằm bảo vệ uy tín, thương hiệu của Nhà xuất bản Văn học.
Trân trọng.


Hà Nội, ngày 31 tháng 7 năm 2013
TL. GIÁM ĐỐC
PHÒNG KẾ HOẠCH - TỔNG HỢP


 BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN:

Nhân danh thơ để lũng đoạn …thơ?

Văn nghệ Trẻ : Nếu là những bài thơ rời lúc trà dư tửu hậu, bằng cảm xúc có thể bị “nhập tâm” những câu thơ hay mà bản thân người sáng tác mơ hồ cho là tâm trạng của mình, người nghe còn có thể thông cảm được. Nhưng khi trở thành một ấn phẩm, có giá trị lưu hành trên diễn đàn văn học, đòi hỏi tính nghiêm túc hơn. Đó cũng là lòng tự trọng của người sáng tác và biết tôn trọng người yêu thơ

Một tập thơ bị phản ứng

Đó là tập thơ “La Gi biển nhớ” của Hải Đăng. Nhà thơ Phan Chính, - 70 tuổi- Chi hội trưởng Chi hội VHNT thị xã La Gi, trực thuộc Hội VHNT  tỉnh Bình Thuận đã rất bức xúc trước một tập thơ mà theo ông là: “nhập nhằng từ ý thơ, câu chữ của người khác để coi đó là sự sáng tạo, xuất thần, thực sự “cày ải” của mình”. Theo nhà thơ Phan Chính, đây là một việc khó chấp nhận đối với người sáng tác!

Nhà thơ Phan Chính đã nhặt ra  một số câu thơ “nhập nhằng” của tác giả Hải Đăng trong tập “La Gi biển nhớ” như sau:
Con đã về nơi Bác ở xưa/ Vẫn xoài cam bưởi trái đong đưa/ Vẫn hồ nước mát reo tăm cá/ Vẫn nắng ban mai rợp bóng dừa…” (bài Viếng Lăng Bác- trang 61). Trong khi đó thơ Tố Hữu ai cũng thuộc lòng: “Anh dắt em vào cõi Bác xưa/ Đường xoài hoa trắng nắng đu đưa/ Có hồ nước lặng sôi tăm cá/ Có bưởi cam thơm, mát bóng dừa…” (bài Theo chân Bác). Trong bài Khói chiều vắng mẹ, Hải Đăng viết : “…Con đi kháng chiến gian lao/ …Mưa bao nhiêu hạt, đếm ngày con đi/ …Qua làn khói mỏng, thương thầm nhớ con/ …Giặc tan con lại về bên mẹ hiền (trang 20). Không coi là thấp thoáng thơ Tố Hữu nữa mà chính xác từ các câu: “Con đi mỗi bước gian lao/…Mưa bao nhiêu hạt thương bầm bấy nhiêu/…Chiều nay chắc cũng thương thầm nhớ con/…Giặc tan, con lại sớm hôm cùng bầm (bài Bầm ơi).  Người đọc không thể coi đây là câu thơ sáng tác đúng nghĩa: “Lô nhô dưới bến mươi thuyền thúng/ Lác đác trên bờ những quán cây…” (bài Đồi Dương Hồ Tôm -trang 49) vì Bà Huyện Thanh Quan đã viết “Lom khom dưới núi tiều vài chú/ Lác đác bên sông chợ mấy nhà…” (bài Qua Đèo Ngang). Lại càng khó chấp nhận việc sử dụng gần nguyên câu thơ đã trở thành quen thuộc với mọi người: “Nhà nàng ở cách nhà tôi/ Đầy vơi nỗi nhớ muốn sang thăm người” (bài Đầy vơi nỗi nhớ- trang 40), với Nguyễn Bính trong bài Cô Hàng Xóm thì “Nhà nàng ở cạnh nhà tôi/ Cách nhau cái dậu mồng tơi xanh rờn…”, tức chỉ đổi từ chữ “cạnh” sang chữ “cách” mới thật quá quắt. Tương tự câu thơ “Cỏ non xanh mướt tới chân trời” (bài Xuân về- trang 63) với “Cỏ non xanh dợn chân trời” (Kiều- Nguyễn Du).

Nhà thơ Phan Chính cho biết, ông đã thử thống kê trong tập “La Gi biển nhớ”; thấy có không dưới hai chục bài bị trùng lặp câu chữ, ý thơ, thậm chí nguyên si gần trọn câu. Trong đó còn có nhiều bài dính dáng đôi câu của thơ Xuân Quỳnh, Đỗ Trung Quân, Xuân Diệu, Hồ Xuân Hương… Như : “Từ buổi xuất quân đi giữ cõi/ Tháng năm luôn nhớ đất cha ông” (bài Tình người chiến sỹ biển đảo-trang 55). Đọc và liên tưởng ngay đến câu thơ nổi tiếng của Huỳnh Văn Nghệ: “Từ độ mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”. Hoặc câu “Mình về mình có nhớ ta/ La Gi ngày ấy thiết tha mặn mà/ Mình về mình có nhớ ra… ” (bài Mình có nhớ ta- trang 180) đã sao y cả lời lẫn tứ thơ của Tố Hữu trong bài Việt Bắc.

“Nếu là những bài thơ rời lúc trà dư tửu hậu, bằng cảm xúc có thể bị “nhập tâm” những câu thơ hay mà bản thân người sáng tác mơ hồ cho là tâm trạng của mình, người nghe còn có thể thông cảm được. Nhưng khi trở thành một ấn phẩm, có giá trị lưu hành trên diễn đàn văn học, đòi hỏi tính nghiêm túc hơn. Đó cũng là lòng tự trọng của người sáng tác và biết tôn trọng người yêu thơ”.- Nhà thơ Phan Chính khẳng định
Theo chúng tôi, hành vi của Hải Đăng trong tập thơ “La Gi biển nhớ” là hành vi đạo thơ một cách trắng trợn.
Vậy, vì sao tập thơ này lại được cấp phép?


Ai đã cấp phép cho tập thơ ?


Trên xinhe của sách ghi: đơn vị cấp phép là Nhà xuất bản Văn Học và GPXB số 22 (ngày 15/1/2013).
Trên tinh thần xây dựng, ngay sau khi phát hiện ra tập thơ dở, nhà thơ Phan Chính đã gửi thư đến NXB Văn học. Nội dung thư có đoạn:

“Vì uy tín của NXB Văn học đã có từ lâu, cho nên dư luận địa phương chúng tôi hết sức bất ngờ là, không hiểu vì sao với tập thơ “La Gi biển nhớ” của Hải Đăng (không phải là Hội viên VHNT địa phương) do NXB Văn học lại liên kết với một đơn vị không biết từ đâu, uy tín thế nào, đó là “Câu lạc bộ sáng tác VHNT Việt Nam” (do Đăng Hạ) đứng ra xuất bản với một nội dung vừa kém nhưng điều quan trọng là có nhiều sai phạm lớn do sao chép thơ người khác (đạo thơ) quá thô thiển. Tập thơ này được lưu hành rộng rải trong tỉnh Bình Thuận và được công bố giới thiệu nhiều hình thức. Trước đây, ở địa phương chúng tôi cũng được phổ biến một tập thơ tựa Cát Bồi của Minh Trinh, dưới hình thức NXB Văn học liên kết Câu lạc bộ  Sáng tác VHNT Việt Nam xuất bản (Cụ thể ghi in 1000 cuốn, tại Nhà in Hà Đăng. Giấy Chấp nhận KHĐKXB số 233-2012/CXB/25-07/VH ngày 23/4/2012-nộp lưu chiểu quý II/2012). Chất lượng nội dung rất kém.

            Tôi xin cung cấp các thông tin liên quan để NXB nghiên cứu nhằm bảo vệ uy tín tên tuổi NXB Văn Học, xứng đáng là Bà Đỡ cho nhiều tác phẩm Văn học có chất lượng.”
Ngay sau khi nhận được thư từ nhà thơ Phan Chính, NXB Văn học đã lập tức rà soát lại công tác cấp giấy phép xuất bản, đặc biệt là kiểm tra số giấy phép của hai cuốn “La Gi biển nhớ” và “Cát bồi” theo như thông tin mà nhà thơ Phan Chính cung cấp.
Thật bất ngờ, trong danh sách cấp giấy phép của NXB hoàn toàn không có danh mục hai cuốn sách này. Rõ ràng đây là sự mạo danh, làm giả một cách trắng trợn của Câu lạc bộ sáng tác VHNT Việt Nam.

Vén tấm màn bí mật về “Câu lạc bộ sáng tác VHNT Việt Nam”

Thật trùng hợp, chúng tôi cùng lúc nhận được bài viết của nhà báo Lê Hồng Thiện, vén tấm màn bí mật về “Câu lạc bộ sáng tác VHNT Việt Nam” (CLB), Số hội viên của CLB này theo thống kê sơ bộ có trên 4500 người, sinh hoạt tại 15 chi nhánh đóng tại các địa phương (như: Hưng Yên, Phú Thọ, Nam Định, Hoà Bình, Hà Nội, Thanh Hoá, Hải Dương, Đồng Nai  v.v….).  Người khai sinh ra CLB  là Đăng Hạ - một nhân vật hoàn toàn xa lạ với giới sáng tác .

Vậy Đăng Hạ là ai?
Trong phóng sự điều tra của mình, nhà báo Lê Hồng Thiện cho biết: Đăng Hạ tên thật là Ngô Văn Khích, sinh năm 1984, quê Thanh Hóa, nơi đăng kí hộ khẩu thường trú hiện nay tại số 1, ngõ 31/2, đường Phan Trọng Tuệ, thị trấn Văn Điển, Hà Nội. Từ năm 2008, Ngô Văn Khích thành lập một số công ty TNHH tư nhân như: Công ty Cổ phần phát triển Truyền thông thương hiệu Việt, Công ty TNHH dịch vụ tư vấn Thành Phát (sau chuyển đổi thành Công ty Cổ phần dịch vụ và tư vấn Thành Phát và tiếp theo lấy danh nghĩa của Công ty Thành Phát này để ra quyết định thành lập CLB sáng tác VHNT Việt Nam (ngày 20/6/2009). CLB lấy địa chỉ nơi ở của  Ngô Văn Khích làm trụ sở hoạt động.

Điều kiện tham gia CLB hết sức đơn giản: chỉ cần 2 bài thơ và nộp phí (gồm phí nhập hội, và phí hàng năm). CLB dù lấy tên là “Câu lạc bộ sáng tác VHNT Việt Nam” nhưng thực tế hội viên đều là… “nhà thơ”
Nhà báo Lê Hồng Thiện cho biết: “Bề ngoài CLB sáng tác VHNT Việt Nam họat động ra vẻ “phong trào”, nhưng bên trong Đăng Hạ làm nghề kinh doanh thơ phú, trong nhà Đăng Hạ có máy in màu, máy in đen trắng các hội viên của Hạ muốn in thơ đều phải qua nhà in của Hạ, Hạ vừa biên tập viết lời giới thiệu tán tụng và lo giấy phép, làm bìa. Tất cả các khâu này anh ta “ăn” đậm, “chém” đau các cụ. Chém các cụ như thế chưa đã, Đăng Hạ còn chém các cụ bằng các thủ tục hành chính, thi đua, khen thưởng.”

Với cái tên rất “kêu”: “Câu lạc bộ sáng tác VHNT Việt Nam” nên không ít người nhầm tưởng nó là cơ quan ngang bộ, có người lại tưởng đó là … Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, nên khi đi các tỉnh làm việc, Đăng Hạ và cộng sự của mình dễ dàng lừa phỉnh được lãnh đạo ban ngành tại nhiều địa phương.

Những việc làm khuất tất, thu lời bất chính của cái gọi là “Câu lạc bộ sáng tác VHNT Việt Nam” đã lọt vào mắt các cơ quan chức năng. Bắt đầu từ 5/2/2013 CLB sáng tác VHNT Việt Nam đã bị ngừng hoạt động, theo yêu cầu của Bộ Công an, Đăng Hạ phải tự giải tán, có trách nhiệm thông báo cho 15 chi nhánh

Tuy nhiên, trong bài điều tra của nhà báo Lê Hồng Thiện cho biết: bất chấp kết luận của cơ quan công an, Đăng Hạ vẫn tiếp tục Đại hội theo dự kiến vào 13/7/2013. Hạ cho họp BCH mở rộng và lập danh sách BCH mới cho nhiệm kỳ II (2013-2018).Những hội viên bị sa thải ở nơi này lại đến CLB VHNT chi nhánh nơi khác cũng được Hạ cho tái kết nạp.

Xuất phát từ những sai phạm trên, Ngày 13/7/2013 cơ quan An ninh Hà Nội đã không cho CLB sáng tác VHNT Việt Nam  tiến hành đại hội. Tại Hưng Yên, sau khi có đơn tố cáo của một số cụ, phòng Bảo vệ Chính trị an ninh nội bộ công an tỉnh Hưng Yên đã xác minh và yêu cầu ông Lâm Sơn Hà – chủ tịch CLB sáng tác VHNT Việt Nam chi nhánh Hưng Yên dỡ bỏ tấm biển “Văn phòng đại diện CLB sáng tác VHNT Việt Nam chi nhánh Hưng Yên” trụ sở đặt tại số nhà 106, đường Tô Hiệu, phường Hiến Nam, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên

Sự “lộng hành” của “Câu lạc bộ sáng tác VHNT Việt Nam” kéo dài suốt bốn năm qua, đến giờ mới bị phát hiện.
Nhà báo Lê Hồng Thiện bức xúc đặt câu hỏi trong bài viết của mình: “tại sao CLB sáng tác VHNT Việt Nam do Đăng Hạ lập ra và đứng đầu này đã tồn tại nhiều năm với những sai phạm như vậy mà nhiều cơ quan chức năng ở Hà Nội không biết? Câu hỏi này xin được gửi đến Cơ quan bảo vệ Chính trị an ninh nội bộ công an thành phố Hà Nội, Sở VHTT và Du Lịch, Ban tuyên giáo Thành uỷ Hà Nội, Hội liên hiệp VHNT Hà Nội, Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam?”

 Chúng tôi thiết nghĩ, câu hỏi cũng cần đặt ra cho cả những người cầm bút hiện nay, rằng: tại sao thơ bị lũng đoạn?


PVVNT


 (Nguồn: phongdiep.net)

Thursday, August 1, 2013

SUY TƯ TÔI TỰ HỎI !?

SUY TƯ TÔI TỰ HỎI !?

 VÂN THUYẾT
 .
Cách đây ít hôm, tôi có đọc  bài: “Sáng tạo và thiên bẩm – tức bản năng là phần nô tài của thân xác “của “triết gia”, nhà phê bình văn học, nhà văn Nguyễn Hoàng Đức được đăng trên trang Blog của nhà văn Nguyễn Tường Thụy. Trong khuôn khổ một bài viêt, tôi chỉ muốn có thêm những suy nghĩ của cá nhân về hai khái niệm này. Bàn sâu về nó có lẽ phải viết một cuốn sách cũng chưa hẳn có thể thỏa mãn hết ý nghĩa về nó.
Tôi cho rằng – “Thiên bẩm và lý trí” , đó là hai đặc tính, hai khái niệm căn bản khi bàn về khả năng nhận thức và hành động của con người, cả hai đều do Đấng tạo hóa, ông Trời hay Thượng Đế ban tặng con người. Chúng ta đều hiểu rằng – thiên bẩm là thiên về bản năng, thiên về cái bản tính có sẵn được sinh ra trong tự nhiên. Còn lý trí là khả năng nhận biết, khả năng tư duy, suy đoán và phán xét…nó được phát triển theo thời gian, theo sự lao động, sự trau dồi học hỏi, rèn luyện của mỗi cá nhân – nó là khả năng duy nhất chỉ có ở con người .
Khi bàn về những tác phẩm nghệ thuật thơ, văn xuôi, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, điện ảnh … người ta thướng dùng hai khái niệm: “Cảm xúc và lý trí” hay “Cảm xúc và trí tuệ” để bình luận, đánh giá, phán xét về giá trị nghệ thuật của chúng.
Trong nghệ thuật hội họa, điêu khắc, có thể cả thơ…  khi chiêm ngưỡng những tác phẩm của một tác giả nào đó, nhà phê bình, hay công chúng có thể nói:  “ Chất bản năng của nghệ sĩ này rất mạnh” – khi đó chúng ta nên hiểu rằng đó là ám chỉ của lời khen chứ không phải lời chê, và đó cũng chính là năng khiếu bẩm sinh, là trời phú hay thiên bẩm – đó cũng là điều không thể thiếu trong mọi lĩnh vực đòi hỏi sự sáng tạo . Và chúng ta hãy tự hỏi – Có lĩnh vực nào mà không cần đến năng khiếu, và tại sao người ta phải thi để tuyển năng khiếu (thiên bẩm !?). Bởi vậy khái niệm thiên bẩm hay bản năng ta nên đánh giá, phán xét trong từng trường hợp, sự việc cụ thể của khả năng ứng xử, hành động, nhận thức trong lý trí của mỗi con người. Chúng ta cũng đều hiểu rằng: năng khiếu là thiên bẩm, nhưng không có nghĩa rằng chỉ  lạm dụng vào năng khiếu là có thể thành công và mãi mãi sử dụng nó – nếu chúng ta không khổ công rèn luyện,  không “văn ôn, võ luyện” không “ngày đêm miệt mài kinh sử”, “không lao tâm khổ tứ”làm sao có thể tinh luyện tay nghề, làm sao trí óc có thể uyên bác, thông thái, uyên thâm, thông tuệ – chắc chắn rắng – thiên bẩm sẽ mất dần và lụi tàn, giống như con người nuôi giữ, giam cầm sư tử , hổ , báo trong lồng , cũi , sau nhiều thế hệ , bản năng sinh tồn leo chèo, săn mồi sẽ bị suy giảm và dần dần sẽ mất đi. Có lẽ điều này là quá phổ thông, chỉ có trẻ thơ là không biết !?
Tôi cho rằng: – Cảm xúc và trí tuệ là hai điều cốt tủy trong bất kỳ một tác phẩm nghệ thuật nào. Cảm xúc làm dâng trái tim lên cao – trí tuệ sẽ đưa con tim bay đi xa. Dâng lên cao bao nhiêu!? Bay đi xa bao nhiêu!? Tất cả phụ thuộc vào năng lượng tài năng của người nghệ sĩ có được. Thượng Đế cho chúng ta linh hồn, còn tâm hồn và trí tuệ là do chính chúng ta phải tự trau dồi khổ luyện suốt cả cuộc đời mà vẫn có thể chưa chắc đã đạt thành tựu – đó cũng là nghịch lý chua xót mà tất cả những ai yêu sự sáng tạo phải chấp nhận. Bởi vậy trong ngôn ngữ con người có những khái niệm thiên tài,  vĩ nhân, hay vĩ đại để vinh danh những tài năng lớn. Suy tư tôi tự hỏi – phải chăng – mỗi nghệ sĩ chúng ta đã có được những phẩm hạnh cốt yếu của người quân tử, của bậc siêu nhân như quan niệm của triết gia Nietzsche: “Can đảm – nhìn sâu – thiện tâm và cô đơn”. Nhà thơ người Áo Maria Rilke quan niệm rằng: “Tác phẩm nghệ thuật là niềm vui cô đơn vô hạn”. Còn hình như các nhà thơ, nhà văn, nghệ sĩ Việt nam phần đông thích dông dài hội hè, vui vẻ …một triết gia cho rằng: “Ở nơi vui vẻ có thể cho ta thêm thông tin,  kiến thức, nhưng tài năng nẩy nở ở nơi yên tĩnh”.  Suy tư tôi tự hỏi – có phải cô đơn là tài sản của những kẻ đam mê sự sáng tạo!?
Ở phần đánh giá, nhận định về thơ Việt nam tôi chỉ đồng tình với NHĐ khi nói đến số đông nhà thơ Việt nam chứ không thể nói: “Thơ Việt nam” trong các đánh giá bình phẩm. Theo tôi, số đông không quyết định đến giá trị nghệ thuật, mà nó chỉ quyết định tạm thời về quyền lực hay xu thế” trong một thời kỳ nào đó của số phận của một quốc gia, hay thời đại. Suy tư tôi tự hỏi -trong lịch sử nhân loại ở mọi thời đại, ở mọi quốc gia, khi nói đến thành tựu văn hóa nghệ thuật, khoa học, triết học có bao giờ chúng ta lấy số đông để ca ngợi, hay chỉ vinh danh những cá nhân làm nên những sự kiện lich sử …!? ví dụ như nước Anh có Shakespeare – Đức có Beethoven, Einstein, nước Áo có Moza – Pháp có Descartes, Voltere, standhal, Balzac , Baudelaire, Verlaine, Rimbaud – Thụy sĩ có Giacometti – Tây Ban Nha có Picasso – Ấn Độ có Tagore – Nga có Puskin , Tchaikovxky, Bunhin, Exenhin – Balan có Chopin , Marie Curie  - Việt nam có Nguyễn Du, và có biết bao nhiêu các triết gia, các nhà bác học, nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, họa sĩ thiên tài, lỗi lạc … có lẽ trong chính trị, trong quân sự người ta cần đến số đông, bởi nó cần thiết phục vụ cho sức mạnh quyền lực vả cả bạo lực …!?. Suy tư tôi tự hỏi – có phải mỗi thế kỷ, dân tộc Việt nam có đôi ba người như trên, dân tộc Việt nam có thể được goi là cường quốc của trí tuệ hay không !?
Về thực chất hiện trạng của thơ Việt nam như nhận xét của NHĐ, có lẽ không chỉ riêng thơ, mà ở nhiều lĩnh vực khác cũng có hiện trạng tương tự. Nếu nhận xét tính cách chung về số đông của con người Việt  nam hiện nay chúng ta có thể nhận  thấy: – Ngày càng trở nên thực dụng hơn, thông minh tinh quái hơn, khôn ngoan hơn, tính xã giao che dấu sự thật giả tạo nhiều hơn – có xu hướng ham mê du hý, khoái lạc nhiều hơn là bổn phận, trách nhiệm và danh dự – sự lịch lãm tao nhã, cao khiết quý phái mất dần – ít lãng mạn, ít khát vọng, ít suy tưởng, ít lý tưởng hơn, ít nghe thấy những từ cao cả, cao thượng trong ứng sử , trong quan hệ xã hội , trong hành động của cuộc sống – có nhiều người táo tợn hung hãn hơn – sự hoài nghi gia tăng, luôn có sự đề phòng lẫn nhau, hình như chẳng ai tin ai !?- về chân dung, khuôn mặt người Việt nam phần đông đều có xu hướng phát lên về ăn uống, về tìm kiếm tiện nghi, phương tiện vật chất đời thường (ngay những người giầu có, hay một số quan chức cũng tương tự và họ còn có thêm vẻ rất vô tư tự mãn) rất hiếm gặp những khuôn mặt thanh cao, hồn nhiên, thánh thiện hay vẻ cao nhã, trầm tư , thông thái !?
Suy tư tôi tự hỏi – trong một tình thế đầy những vấn nạn, những phức tạp, những khó khăn của cuộc sống xã hội , cả thế giới đang tồn tại trong một trạng thái “của thế đạo suy vi – của tà thuyết bạo hành” . Người nghệ sĩ muốn diễn tả chân xác những khát vọng sâu kín , những suy tưởng trực giác chân thực nhất, nhưng luôn bị xô đẩy trở lại cái hiện thực nghiệt ngã của biến cố cam go, nó trôi nổi trong vòng sinh tử của cuộc đời, những quy luật cao cả nhất , những tình cảm sáng láng theo giá trị tích cực nhất cũng có thể bị phá vỡ, bị thương tổn bởi cái phũ phàng của thực tế. Các văn nghệ sĩ Việt nam có lẽ khó thoát khỏi ảnh hưởng của những tâm lý trên!? Tôi cho rằng thật là lớn lao, thật là vĩ đại nếu như có những ai đó có khả năng thấu suốt, vượt trội, không lây nhiễm những đòi hỏi của cuộc sống đời thường, có sức mạnh năng lượng sáng tạo cho mình một thế giới riêng để viết lên những tác phẩm lớn!?, như nhà văn Mặc Ngôn được trao giải Nobel văn học năm 2012 là một hiện tượng!? Thú thực, quả là quá khó, muôn vàn khó …!? Có lẽ bởi vậy đa số các nhà thơ, nhà văn, nghệ sĩ đều phát lộ những cảm xúc thường nhật vội vã, chộp dật, nhẹ tênh, hời hợt, bắt chước, xen lẫn sự giả tạo…trí tuệ non yếu, còn mang nặng chất yếm thế, bản lĩnh yếu đuối nên dễ bị bắt chước, lây nhiễm ý tưởng của nhau …ngại tư duy, trì trệ bảo thủ . Phần đông các nhà thơ đều có tham vọng, ước muốn trở thành hội viên hội nhà văn – sau khi vào được hội họ tự thấy mình là nhà thơ, nhà văn chuyên nghiệp và tự coi mình là tài năng và hoàn thành “sự nghiệp” và họ có ước muốn nhanh được giải thưởng, nhanh được nổi tiếng, nhanh có nhiều thứ, có thể gọi là nhanh gặt hái được nhiều thành quả…phải chăng – đời người ngắn ngủi nên đa số con người gấp gáp hưởng thụ …!?.
Đức Phật dạy rằng:  Đau khổ lớn dẫn đến giác ngộ lớn”, còn triết gia người Hà lan Spinoza đã nói rằng: “Tâm trí con người trở nên bất diệt khi nó được gắn liền với những tư tưởng bất diệt”  hay như lời của Trang Tử : “Bậc chí nhân không thấy có mình – bậc thần nhân không nhớ đến công mình – bậc thánh nhân không nghĩ đến tên mình” . Nếu mỗi chúng ta chỉ có những ước muốn thực dụng trước mắt, những khoái lạc trước mắt, không dám phiêu lưu theo đuổi đến cùng điều mình tư duy, làm sao chúng ta có thể sáng tạo nên những tác phẩm lớn đánh động đến cảm xúc và trí tuệ nhân loại, làm sao chúng ta có thể trở nên thiên tài hay vĩ đại. Tôi ủng hộ một số những nhận định, những đánh gía về trình độ chung và tính cách của số đông giới thơ Việt nam hiện nay của “Triết gia”, nhà phê bình văn học Nguyễn Hoàng Đức. Sự phê phán số đông giới thơ Việt nam chưa tuyệt đối đúng nhưng cũng không sai – hầu hết cảm xúc thơ, cấu trúc tình cảm, phong cách, cách tư duy vần điệu, nhịp điệu gần như giống nhau, đề tài quanh quẩn những chuyện sinh hoạt, yêu đương, ý tưởng thường rất tối nghĩa, vụn vặt, không có chiều sâu của triết lý, không có cái đẹp của ngôn từ, chữ nghĩa thấp, nông choèn, hời hợt, rất giả, chất đóng kịch như sân khấu, chất trí tuệ rất mỏng, bắt gặp ai có ý hay, câu hay là sử dụng luôn coi như của mính sáng tác nên, những hình ảnh trong thơ thường là gió, mưa, làng quê, cây đa cây gạo, cử sổ, cổng làng, đông ruộng, dòng sông, dòng suối, con đê, giếng nước trâu bò, lợn gà …hầu hết không có tư tưởng , không có dòng thơ triết lý, chất mỹ lệ cao sang quý phái của những bậc hiền nhân thông thái  có những tập thơ từ đấu đến cuối toàn những sexual indulgence (sự say đắm tình dục) và được ca ngợi hết lời. Có một số làm thơ nghe cực kỳ “bẩn”, có thể dùng từ  ”nhố nhăng”,  nếu phân tích sâu, cụ thể, quả thật có chút hoang mang về tình trạng thơ Việt nam!?
Tôi ủng hộ tư duy và nhận xét phê bình của NHĐ khi nói về Hội nhà văn Việt nam đã trao giải thưởng cho tập thơ: – “ Giờ thứ 25″. Về thời gian, trái đất chỉ có 24 giờ – giờ thứ 25 là sự phi lý không có thực trong quy ước gọi tên độ dài thời gian trong môt ngày. Bởi vậy nó là cài tên mang tầm tư tưởng, một cái tên hết sức độc đáo. Nó nằm trong danh mục từ điển của những tác phẩm ảnh hưởng đến tư tưởng nhân loại  – nó như một sinh linh – số phận của nó đã được nhân loại định đoạt, không bất kỳ ai có thể dùng nó như đứa con của mình sinh ra – chúng ta chỉ có thể tôn vinh thêm cho nó như là tài sản tinh thần của chung nhân loại, tất cả mọi người trên thế giới cùng chiêm ngưỡng, cùng thưởng ngoạn như: “ Con thuyền say “của Rimbaud”, “Những người khốn khổ” của Victo Hugo, “Chiến tranh và hòa bình” của Lev Tolstoy, “Chuông nguyện hồn ai” của Hemingway; trong âm nhạc có bản giao hưởng số 5 mang tên “Định mệnh” của thiên tài Beethoven;  trong hội họa có tác phẩm “Thời gian chảy” của Salvador Dali …và rất nhiều những kiệt tác nghệ thuật khác – Tôi không hiểu tại sao những điều tối thiểu như vậy mà Hội nhà văn Việt nam (một tổ chức văn nghệ lớn của một Quốc gia) vẫn trao giải thưởng cho một tác giả sử dụng tên của một tác phẩm đã đi vào lich sử văn học nhân loại “Giờ thứ 25″ của nhà văn Người Rumani – Constantin Virgil Gheorghiu. Suy tư tôi tự hỏi – nếu Hội nhà văn Việt nam đánh giá  tác phẩm thơ “Giờ thứ 25″ là xuất sắc của nền thi ca Việt nam và đệ trình tiến cử nó đến hội đồng xét duyệt giải Nobel văn học của Hoàng gia Thụy Điển , không hiểu họ sẽ nghĩ sao về tác giả của tập thơ “ Giờ thứ 25 “ của Việt nam !? và họ sẽ nghĩ sao về Hội nhà văn Việt nam !!!???.
Tôi cho rằng – những tên như: mùa thu, chiều thu, gió thu, đêm thu, đêm trăng, mùa hè, mùa hạ, mùa xuân, mùa mưa, mùa đông, giọt mưa, giọt nắng, bình minh, ánh dương, hoáng hôn, nắng sớm, nắng chiều, xế chiều, biển tình, biển nhớ, lá rơi, lá rụng, lá bay, lá cười, lá buồn, lá khóc, mộng mơ, mộng tưởng, nỗi buồn, nỗi nhớ, nỗi sầu, niềm tin, đam mê, khát vọng, tâm hồn, tâm tưởng, tâm tình, tâm trạng, chia ly, tình yêu, tình thương, tình ái, tình dục, khổ đau… có thể nói các nhà thơ, nhà văn có thể sử dụng thoải mái, vô tư của nhau mà không ngần ngại bị gọi là bắt chước hay  ăn cắp”, vì những cái tên dạng kiểu phổ thông này có thể dùng làm tiêu dề cho thơ, nhưng rất hạn chế bởi nó chẳng hề đánh động gì đến cảm xúc và trí tuệ chúng ta, đôi khi nó phản cảm, rất “tuồng chèo cải lương”!?, gây buồn chán …
Về tác giả NHĐ, tôi đã có dịp đọc nhiều bài viết của NHĐ, có thể gọi NHĐ là một tài năng trên diễn đàn phê bình văn học Việt nam hiện nay và cũng rất cần thiết có một NHĐ để có sự phản tỉnh tới giới văn nghệ sĩ Việt nam. NHĐ có nhiều phẩm tính đáng quý như có tư duy triết học – thông minh, sắc xảo, nhạy bén, thích đối thoại, tràn đầy nhiệt huyết (trong tranh luận với bạn bè hay áp đặt, dễ nổi cáu, khó tính, độc đoán, đôi khi rất độc tài, cũng khá cuồng tin) yêu nghê thuật, đam mê văn học, đam mê triết học, đam mê sự thât, viết rất khỏe, rất nhanh, rất nhiều…có số lượng tác phẩm khá đồ sộ bao gồm trường ca, kịch, truyện ngắn, tiểu thuyết, các chuyên luận mang tính triết học, hàng trăm các bài viết đã được đăng tải trên các báo viết , báo mạng …) Đặc điểm dễ nhận biết các bài viết của NHĐ – thường xuyên, liên tục, không ngưng nghỉ sử dụng rât nhiều phương tiện, những vật liệu, những ví dụ của sinh hoạt cuộc sống đời thường, sử dụng rất rất nhiều danh ngôn, châm ngôn, phương ngôn, “thường” ngôn (lộng ngôn và đại ngôn thi thoảng có gặp khi giao lưu đối thoại bạn bè…chưa có “chém gió”) ca dao, tục ngữ , hò , vè …đủ loại Đông Tây kim cổ , Việt nam…- và cả những câu nói của đời sống bình dân vỉa hè đường phố, thôn xóm…trong bất kỳ một bài viết nào từ thượng tầng tư duy Platon, Aristote rơi ngay xuống hạ tầng cơ sở “Củ cải – tép riu”!?.  Sở trường ưu điểm của NHĐ có lẽ là khả năng dùng chữ nghĩa lao lên phia trước rất mạnh, rất hồ hởi, rất tự tin, đầy sung mãn của thể lực, trong khí thế hừng hực tiến lên khao khát chiến thắng mọi đối thủ khi tham dự tranh luận và sẵn sàng đối đầu, tuyên chiến, đọ găng bút chiến với bất kỳ ai!?. Có thể NHĐ nghĩ rằng không ai có thể có khả năng tranh luận với mình, không ai có khă năng có trí tuệ như mình ở Việt nam!?. Trong ngôn ngữ có khái niệm  văn viết và văn nói, văn phong của NHĐ cũng dễ nhận biết bởi nó thể hiện gần như với phong cách nói chuyện của NHĐ.  Suy tư tôi tự hỏi – có phải những sở trường trên đã cản trở NHĐ trở nên một triết gia thuần khiết và hướng sự nghiệp của NHĐ sang một học giả nhiều hơn!? . Có một triết gia đã nói rằng: “Những bậc đại trí đôi khi phải lùi bước – bởi bọn tiểu nhân quá đông” – nghe thật bi tráng!?.  Bởi vậy – NHĐ cứ yên tâm như một hiệp sĩ dùng cây bút của mình như một cây thương dong duổi trên con đường truy tìm chân lý!? Bản thân tác giả bài viết này cũng không muốn nhào nặn thêm sự phức tạp cho cuộc sống, đây chỉ là một lần ngẫu hứng thiêng liêng như khi tôi vẽ tranh. Suy tư tôi tự hỏi – phải chăng vẫn có những bậc hiền triết đã quá thấu hiểu cuộc đời này, quá vượt trội với thời đại này, nên họ âm thầm, ẩn dật dành thời gian, dành tâm trí cho người bạn tâm tình thủy chung của họ là sách, là nghệ thuật và âm thầm sáng tạo!?
Khi so sánh giữa nhà thơ và nhà văn, NHĐ đã có những thiên lệch trong nhận thức và đánh giá. Tôi cho rằng – nếu so sánh không khách quan, không chuẩn mực đều có thể dẫn đến thị phi, ngộ nhận, độc đoán, quyết liệt hơn sẽ là cuồng tín, độc tài …
Tôi cho rằng – khi ta đánh gía, bình phẩm, phán xét về bất kỳ điều gì , về bất kỳ ai  ta nên cảnh giác với chính bản thân ta, ta hãy tự tra vấn xem ta đã hiểu biết, am tường, thấu suốt sự việc sự kiện, con người đó đến đâu – hãy suy ngẫm về khả năng, khiếu thẩm mỹ của chính ta. Sự hẹp hòi, ích kỷ, đố  kỵ có thể che phủ kín tâm trí và đôi mắt của ta – để vượt qua không phải là giản đơn!? – đó là thử thách vô cùng cam go bất kỳ ai đều có thể bị mắc kẹt trong sợi dây vô hình đó…ở đây có lẽ chỉ có tình yêu trí tuệ thực sự và lòng cao thượng mới có thể vượt lên trên để chiến thắng chính bản thân ta .
Tôi cho rằng: – Thơ là cảm xúc – thơ là khát vọng – thơ là nhận thức – thơ là tâm linh – thơ là lạc thú của tâm hồn, tư tưởng và nhịp điệu của nghệ thuật ngôn từ – thơ là tinh hoa của ngôn ngữ , chữ nghĩa – ngôn ngữ thơ có thể chạm đến giới hạn tột cùng của cảm xúc, của nội tâm – thơ đòi hỏi những am hiểu tinh tế, sâu sắc về tâm hồn con người – thơ có cả hài và bi về thân phận kiếp người – thơ ngợi ca cái đẹp của tâm hồn, tư tưởng – ngợi ca cái đẹp bi tráng của những anh hùng có số phận đơn lẻ – nó đòi hỏi sự cộng hưởng mãnh liệt của cơn phê cảm xúc , cơn phê trí tuệ , cùng trí tưởng tượng phóng túng – một bài thơ , một câu thơ có thể khoan sâu, xuyên thấu tâm can, xuyên thấu thời đại, lay thức hàng triệu triệu con tim – thơ chỉ kết thúc khi con người không còn cái xấu, cái ác, không còn sự cô đơn , không còn tình yêu!!! Còn tiểu thuyết thì sao – đó là những câu chuyện bi hài xen lẫn bi tráng về thân phận kiếp người, nó thức tỉnh con người thoát khỏi những định kiến, những áp đặt, những sự độc đoán trong suy nghĩ, trong hành động – nó vén bức màn của sân khấu đời, của những nỗi ám ảnh sợ hãi triền miên – nó dẫn dắt, hướng đạo con người nhìn vào sự thật, phân biệt cái tốt với cái ác, cái đẹp với cái xấu  - nó thôi thúc chúng ta những làm việc thiện tâm – nó có sự độc thoại nội tâm để tâm hồn và tư tưởng được giải phóng khỏi những ràng buộc của cuộc sống đời thường, trong đó có cả sự ca ngợi về cái đẹp của thiên nhiên, cái đẹp của tình yêu, cái đẹp của cuộc sống, cái đẹp của tự do, cái đẹp của tâm hồn, tư tưởng của lòng bao dung và sự cao thượng …một cuốn tiểu thuyết có thể làm dung chuyển thời đại, thức tỉnh, đánh động trí tuệ và lòng trắc ẩn của triệu triệu con người . Chúng ta có thể nhận thấy thơ và tiểu thuyết đều siêu tuyệt mỹ, siêu trác tuyệt – nhưng để đạt đến đỉnh cao đó , mỗi nhà thơ , nhà văn hãy tự suy tư tra vấ !?
Suy tư tôi tự hỏi  - phải chăng , thơ và tiểu  thuyết ĐỈNH CAO đều cần được nuôi dưỡng bởi những con có trí tuệ , có tâm hồn mơ mộng và cao thượng !!!???
Tôi vẫn có niềm tin rằng cho dù biến cố xã hội có sự thăng trầm, nghiệt ngã – cho dù số đông các nhà thơ , nhà văn Việt nam còn đang  dông dài , hội hè vui vẻ” trong những ham muốn của cuộc sống đời thường, nhưng vẫn có thể có những con người biết chấp nhận những cam go của cuộc sống, họ sống ẩn dật, âm thầm viết, viết, và viết – sáng tạo , sáng tạo và sáng tạo như một sứ mệnh của nhân thế, họ không mong đợi gì hơn là được bộc lộ hết những cảm xúc, tư duy, những điều sâu kín trong thăm thẳm nội tâm – hy vọng để tạo nên những kiệt tác …
Tôi không có sự phân biệt, so sánh hơn kém giữa thơ với văn xuôi, không có sự so sánh về nhân cách, bản lĩnh, trí tuệ của nhà văn với nhà thơ. Thú thực tôi thấy rất khôi hài và rất khó nghe !? Chúng ta đều biết rằng cho đến hiện nay đã có khoảng 113 giải Nobel văn học, trong đó có chưa đến 20 nhà thơ được giải Nobel (nếu so sánh kiểu số học , ta sẽ thấy thơ khó hơn văn xuôi gấp khoảng 6 lần – hay có thể nói rằng – để có giải Nobel văn xuôi sẽ dễ hơn có giải Nobel thơ 6 lần !?) Có lẽ các nhà thơ Việt nam nên chuyển sang viết văn xuôi  hy vọng có xác xuất may mắn nhiều hơn, và chúng ta hãy cố gắng chờ đợi xem thi sĩ hay văn sĩ của Việt nam – ai sẽ là người được vinh danh nhận giải Nobel trước !!!???). Bởi vậy không thể nói văn xuôi khó hơn thơ và ngược lại . Thi hào người Đức – Goethe (1749- 1832) đã nói rằng: “Trước một trí tuệ vĩ đại tôi cúi đầu  – trước môt tác phẩm vĩ đại tôi quỳ gối” . Những tác phẩm thơ, văn xuôi, âm nhạc, hội họa hay điêu khắc, ngay cả tác phẩm triết học khi đạt tới đỉnh cao đều được gọi là KIỆT TÁC , chúng đều bình đẳng trong cảm xúc, trong trí tuệ, trong nhận thức thẩm mỹ và trong kho báu nghệ thuật , tri thức của nhân loại !!! Mỗi chúng ta hãy tự chiêm nghiêm và suy ngẫm !?.
.
Ngày 8-5-2013