KINH ĐẠO NAM – MỘT CUỐN SÁCH
HIẾM LẠ
Gọi hiếm lạ có lẽ
cũng không quá đáng vì trong kho tàng sách Hán Nôm Việt Nam hiện còn đang giữ được, loại sách tương tự
như quyển Kinh Đạo
Nam rất ít khi được ưu
tiên chọn để phiên âm - chú giải và ấn hành, có thể cũng vì tính “thị trường”
không cao. Mặc dù vậy, quyển Kinh Đạo
Nam viết bằng chữ Nôm mới đây đã được chị Nguyễn Thị Thanh Xuân
phiên âm, chú thích và đã được nhà xuất bản Lao Động ấn hành trong đầu quý II
năm 2007.
Đây là sách thơ,
văn giáng bút của Vân Hương Đệ Nhất Thánh Mẫu (Mẫu Liễu Hạnh) và các vị Nữ Thánh
khác, ra đời khoảng năm 1923, trước đây được cụ Đào Duy Anh sưu tầm, gìn giữ và
đã từng đề cập khá chi tiết trong tập hồi ký ‘Nhớ nghĩ chiều
hôm’ của cụ, nhưng thường mọi người chỉ nghe nói chứ ít ai biết
được hình thù, nội dung nó ra sao.
Nay nhờ có bản
phiên âm của Nguyễn Thị Thanh Xuân, chúng ta mới được dịp biết rõ hơn Kinh Đạo
Nam (và các kinh tương tự trong cùng một luồng) vốn là kết quả
của phong trào Thiện Đàn do các nhà nho yêu nước tạo ra ở nhiều nơi trên đất Bắc
(như Hà Nội, Nam Định, Phúc Yên...) và vùng Thanh Nghệ sau khi phong trào Duy
Tân thất bại (1908) để tiếp tục tuyên truyền những tư tưởng ái quốc, cổ vũ tinh
thần dân tộc tự cường và giáo dục đạo đức trong dân chúng.
Đây là một hiện
tượng lịch sử và văn hóa rất đáng được chú ý, và theo cụ Đào Duy Anh, quyển kinh
là “Tác phẩm tập đại thành tất cả những tư tưởng của giới nho học tiến bộ trong
phần tư đầu thế kỷ..., gồm rất nhiều thể thơ văn, thi phú... Có những câu rất
hay, những bài có thể đặt vào loại văn rất hay”.
Cuốn sách Kinh Đạo
Nam được in một cách khá trân trọng, ngoài phần phiên âm-chú giải
và lời dẫn của người phiên âm, đầu sách còn có in kèm bài ‘Tìm hiểu phong
trào Thiện Đàn...’ của Đào Duy Anh. Cuối sách có in bản chụp
nguyên tác chữ Nôm rõ đẹp, cung cấp thêm một tài liệu gốc đáng quý để nghiên cứu
chữ Nôm vào đầu thế kỷ XX.
Nhân sự ra đời
của bản phiên âm Kinh Đạo
Nam, nhiều người cho rằng nhà xuất bản Lao Động đã vừa làm được
một việc có ý nghĩa về phương diện văn hóa-học thuật, và việc làm của chị Nguyễn
Thị Thanh Xuân cũng là một tấm gương nhắc nhở chú ý nhiều hơn đến một loại hình
sách Hán Nôm đặc biệt mà nếu không nghĩ đến lợi ích lâu dài về mặt văn hóa thì
cũng ít ai chịu khó đầu tư công sức và tiền của để làm một việc làm mà nên coi
thuộc loại cấp bách, bởi số người giỏi và có kinh nghiệm đọc chữ Nôm hiện đang
ngày càng ít đi.
Trần Văn Chánh
(Theo
SGGP)
SỰ LƯU LẠC VÀ TÁI XUẤT
HIỆN
CỦA
KINH ĐẠO NAM
Năm nay chúng ta
kỷ niệm 100 năm sự kiện Đông Kinh nghĩa thục, một phong trào duy tân nhằm đổi
mới những nề nếp suy nghĩ, chấn hưng việc học, thực hiện cuộc cải cách xã hội
trong hoàn cảnh chiếm đóng của thực dân, với mục tiêu giành lại nền độc lập cho
đất nước bằng con đường cải cách. Đông Kinh nghĩa thục không chỉ mở ra bước
ngoặt của cách mạng Việt Nam mà còn có ý nghĩa kéo dài đến tận
ngày nay, khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới. Một trong những tác động của
Đông Kinh nghĩa thục và ảnh hưởng lâu dài của nó là sự chuyển biến của phong
trào Thiện Đàn mang nội dung yêu nước ở nhiều tỉnh miền Bắc nước ta. Vì vậy việc
xuất bản cuốn Kinh Đạo Nam do học giả
Đào Duy Anh sưu tầm và khảo chứng, Nguyễn Thị Thanh Xuân phiên âm và chú giải,
là một đóng góp thiết thực đối với việc kỷ niệm sự kiện lịch sử
này.
Kinh Đạo Nam là một cuốn sách
chữ nôm in trên giấy dó, khổ 28×14 cm, gồm hai tập. Từ những năm 1960, cụ Nguyễn
Ngọc Tỉnh, làm công việc phiên dịch sách Hán Nôm ở Viện Sử học, có trao cho học
giả Đào Duy Anh hai tập sách này do cụ lưu giữ từ lâu trong gia đình. Nhận thấy
đây là một tài liệu có giá trị, học giả Đào Duy Anh đã hỏi cặn kẽ cụ Nguyễn Ngọc
Tỉnh về xuất xứ của cuốn sách, nhưng chưa có dịp công bố, vì vào thời gian đó,
việc nghiên cứu những tài liệu loại này không khỏi gây nên sự hiểu nhầm là tuyên
truyền cho mê tín dị đoan. Tuy nhiên, vấn đề này vẫn đeo bám cụ Đào, khiến cụ
không thể không khảo sát về văn bản và tìm hiểu nguyên nhân ra đời của nó. Cuối
cùng, nhân viết tập hồi ký Nhớ nghĩ chiều hôm, cụ đã dành một chương để
nói về Tìm hiểu phong trào Thiện đàn đối với cuộc vận động ái quốc – Kinh Đạo Nam, trong đó học giả đã khảo sát
việc xuất hiện của Thiện Đàn ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam cùng với sự lưu hành những
tập kinh giáng bút của Tiên Thánh với nội dung cổ vũ tinh thần
yêu nước trong quần chúng bình dân. Tập hồi ký của cụ Đào Duy Anh đã hoàn thành
vào cuối năm 1974, và mãi sau khi cụ qua đời năm 1988 nó mới được xuất bản lần
đầu. Qua tập hồi ký này, Kinh Đạo Nam đã được giới thiệu
với độc giả, nhưng chỉ là những đoạn trích dẫn, còn toàn văn của nó thì chưa
được công bố.
Sau khi học giả
Đào Duy Anh qua đời, tập sách này lưu lạc ở đâu không ai biết, vì trong di cảo
của cụ không còn nữa, mặc dầu đã có một số người tìm đến gia đình mong được tiếp
cận với bản gốc. Hóa ra trong chuyến đi Sài Gòn lần cuối cùng năm 1982, cụ Đào
đã trao lại cuốn sách cho bà Nguyễn Thị Thanh Xuân, một trong những học sinh đầu
tiên của lớp Đại học Hán Nôm do Viện Văn học mở ở Hà Nội năm 1965. Tuy không
trực tiếp dạy ở lớp này, nhưng cụ Đào vẫn thường được các học sinh đến thỉnh
giáo, và bà Thanh Xuân là người sau này còn có nhiều dịp tiếp xúc với học giả
khi làm việc ở nhà xuất bản. Vì vậy khi gặp lại người học trò cũ ở Sài Gòn, cụ
Đào Duy Anh đã trao lại tập sách và gửi gắm tâm sự của mình: “Từ lâu tôi đã
có ý định phiên dịch và cho in quyển này. Đây là hiện tượng lịch sử và văn hóa
rất đáng được nghiên cứu, nhưng vì nhiều lẽ tôi chưa làm được, nên tôi đã dành
một chương trong cuốn hồi ký ‘Nhớ nghĩ
chiều hôm’ để khảo sơ cuốn sách. Nếu có điều kiện, cô nên phiên âm và cho
in để giữ lại một vốn quý về văn hóa cho mai
sau”.
Nhưng phải 25 năm
sau, khi ở tuổi 70, bà Nguyễn Thị Thanh Xuân mới hoàn thành được tâm nguyện
người thầy của mình. Và gần 10 năm sau ngày qua đời, bản phiên âm và chú giải Kinh Đạo
Nam mới được đưa đến
thắp hương trên bàn thờ cố học giả Đào Duy Anh. Nhân dịp này bản gốc bằng chữ
nôm cũng được trao trả lại cho tủ sách của học giả. Bản chữ nôm này là một tư
liệu quý, không hiểu bằng cách nào mà cụ Nguyễn Ngọc Tỉnh có thể giữ được qua
bao biến cố, vì bản thân ông đã ba lần bị thực dân Pháp bắt đi tù, các bản kinh
in trong nhà ông đã bị tịch thu hết ngay từ khi bị khám nhà lần đầu tiên năm
1929. Rồi nó cũng còn lưu lạc thêm một thời gian nữa, để đến nay mới được trở về
với gia đình cụ Đào. Duy đối với gia đình cụ Nguyễn Ngọc Tỉnh thì đến nay chúng
tôi không biết còn ai và hiện đang cư trú ở đâu, nếu may mắn đọc được bài viết
này, thì xin liên lạc để lập lại dây liên hệ. Nhằm giúp bạn đọc hiểu rõ thêm vấn
đề này, chúng tôi xin trích đăng bài nghiên cứu của giáo sư Đào Duy Anh đã in
trong tập hồi ký nói trên.
"...Việc lập
Thiện Đàn để khuyến thiện là việc có từ lâu trong xã hội phong kiến nước ta, nó
thường lẫn lộn với việc thờ cúng và cầu phúc mê tín của Đạo giáo. Tại các cung
quán, những nơi thờ cúng của Đạo giáo, như cung Thiên Trường ở tỉnh Nam Định,
quán Linh Tiên ở tỉnh Hà Tây, quán Trấn Vũ, đền Ngọc Sơn ở Hà Nội (đền Ngọc Sơn
do nhà văn hóa Nguyễn Văn Siêu dựng từ đời Minh Mệnh), thường có những bản kinh
của Đạo giáo, đặc biệt là kinh Âm chất, kinh Văn Xương đế quân,
kinh Quan Thánh đế quân, đọc giảng cho thiện nam tín nữ nghe. Từ khi nước
ta bị thực dân Pháp xâm lược, lại có các vị nhà nho bất đắc chí, hoặc về quê mở
trường dạy học, hoặc lập Thiện Đàn để mong mượn Thiện Đàn mà bảo vệ cương
thường. Đặc biệt nổi tiếng là Đặng Xuân Bảng, tiến sĩ quê ở làng Hành Thiện tỉnh
Nam Định, làm tuần phủ tỉnh Hải Dương, sau khi tỉnh thành bị quân Pháp chiếm
mất, bị vua Tự Đức cách chức, ông về làng cùng với em là Đặng Ngọc Toản, nguyên
làm giáo thụ Kiến Xương, dựng Thiện Đàn ở đền Văn Xương trong làng, dịch kinh
Âm chất ra tiếng Việt, soạn bài Thái thượng cảm ứng thiên quốc âm
ca, nhuận sắc bài Huấn tử quốc âm ca của hoàng giáp Phạm Văn Nghị và
bài Khuyến hiếu ca do nguyên án sát Sơn Tây Phạm Đình Túy diễn âm. Ngay ở
tỉnh thành Nam Định thì có
Đồng Lạc khuyến Thiện Đàn do chính tổng đốc Nam Định Phạm
Văn Toán cùng với một nhà đại thương là Lã Quý Chấn lập nên năm 1904. Ở đấy Vân Hương
Đệ nhất Thánh Mẫu cùng Đệ nhị, Đệ tam Thánh Mẫu đã giáng Kinh Minh
Thiện. Tương truyền Nguyễn Thượng Hiền làm đốc học
Nam Định bấy giờ có đề câu đối ở đàn
rằng:
Liệt diệm tài
hoa, mạc thán dinh thiên vô diệu pháp
Từ hàng độ chúng,
tu tri giác thế hữu chân kinh
(Có người tài hoa
hừng hực nhiệt tình, không lo trời không diệu pháp,
Có Phật từ bi đưa
chúng sinh qua bể khổ, hiểu biết thế gian có Chân Kinh)
Từ năm 1908 trở
đi, sau khi phong trào Duy Tân (Đông Du và Đông Kinh nghĩa thục) thất bại, trước
cuộc đàn áp của chính quyền thực dân, các nhà nho ái quốc nhiều người đã rút lui
sau hình thức Thiện Đàn để tiếp tục việc tuyên truyền những tư tưởng ái quốc, do
đó phong trào Thiện Đàn phát triển mạnh mẽ hơn trước nhiều. Chúng ta chưa có
cuộc điều tra để nắm vững tình hình cụ thể của phong trào. Với hơn chục bản kinh
bằng quốc âm mà tôi được biết, hiện tàng trữ ở Thư viện Khoa học Xã hội thì có
thể thấy rằng trong khoảng từ 1908 đến 1912, ngoài quán Trấn Vũ và đền Ngọc Sơn
là hai trung tâm Thiện Đàn có tiếng ở Hà Nội, trong vùng ngoại vi còn có nhiều
nơi khác. Trong tỉnh Nam Định thì ngoài Thiện Đàn Đồng Lạc ở tỉnh thành, còn có
Thiện Đàn cung Thiên Trường, Thiện Đàn xã Hành Thiện, Thiện Đàn xã Hạc Châu đều
thuộc huyện Xuân Trường, Thiện Đàn xã Phương Để huyện Trực Ninh. Các tỉnh khác
thì tỉnh Hà Đông có ba Đàn, tỉnh Bắc Ninh có một Đàn, tỉnh Phúc Yên có bốn Đàn,
tỉnh Vĩnh Yên có một Đàn, tỉnh Sơn Tây có một Đàn, tỉnh Hưng Yên có năm Đàn,
tỉnh Thái Bình có hàng chục Đàn, tỉnh Hải Dương có hai Đàn, tỉnh Kiến An có một
Đàn, tỉnh Bắc Giang có bốn Đàn, tỉnh Thái Nguyên có bốn Đàn, tỉnh Phú Thọ có một
Đàn, đó là chỉ kể những Đàn mà tôi thấy có kinh tàng trữ ở Thư viện. Trong số
các Đàn kể trên thì Đàn Tương Thiện ở xã Hải Yến tỉnh Hưng Yên được đến hơn mười
Đàn thuộc các miền xung quanh ủng hộ trong việc in kinh. Ngoài ra, theo người
chấp bút của Thiện Đàn xã Hạc Châu huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định lập từ năm
1912, thì trong khi Đàn này giáng Kinh Đạo Nam mà hiện tôi có
một bản, thì Đàn còn liên lạc với các Đàn khác trong tỉnh đã kể trên và với
nhiều Đàn trong tỉnh bên cạnh là Thái Bình: xã Thượng Tâm huyện Thái Ninh, các
xã Cự Lâm, Bổng Điền huyện Thư Trì, các xã Đông Quách, Đông Cao, Nho Lâm huyện
Tiền Hải, các xã Vân Môn, Địch Bài, Thuận Yên huyện Vũ Tiên. Hiện tôi không có
tài liệu về các tỉnh từ Ninh Bình, Thanh Hóa trở vào, song theo nhiều cụ lão nho
mà tôi được gặp nói lại thì ở miền Thanh Nghệ, phong trào Thiện Đàn cũng có
những nét giống như phong trào ở Bắc Kỳ. Có điều đáng chú ý là trong thời kỳ
trước phong trào Duy tân và Đông Kinh nghĩa thục thì các Thiện Đàn phần nhiều
giáng kinh chữ Hán, mà từ đầu thế kỷ XX về sau thì các Đàn thường giáng kinh
bằng chữ Nôm, mà các kinh ấy chủ
yếu là do Tiên Thánh Việt Nam giáng bút, kinh nào cũng cổ vũ tinh
thần yêu nước, tinh thần dân tộc tự cường.
Song chúng ta
phải tự hỏi: ngụy trang việc
tuyên truyền chính trị dưới hình thức thiện đàn đó là một hành động chính trị
mượn hình thức tôn giáo một cách có ý thức hay là một hành động tôn giáo có ý
nghĩa chính trị? Để trả lời câu hỏi ấy chúng ta hãy xem tình hình
cụ thể diễn ra như thế nào. Trước hết hãy xem quá trình thành lập của một Thiện
Đàn mà tôi được biết tương đối rõ. Theo ông Nguyễn Ngọc Tỉnh là người chủ trì
Thiện Đàn Hạc Châu thì Đàn này được lập lên từ năm 1912 ở nhà một ông đồ dạy học
từng có dự phong trào Đông Kinh nghĩa thục. Trước hết là một người học trò tên
Nguyễn Hữu Thao tìm được một quyển sách phụ Tiên, đem về cùng với con ông đồ là
Nguyễn Đức Hinh họp nhau phụ Tiên để hỏi về việc gia đình và việc kiện cáo. Lúc
đầu cho một người nông dân không biết chữ ngồi cầm kê thì không viết ra chữ gì
cả, sau cho cháu ngoại ông đồ là cậu học sinh Nguyễn Ngọc Tỉnh ngồi thì kê viết
thành câu thơ: “Triêu Bích Thủy mộ Thương Ngô, đi về có Thánh Khổng Lồ giao
du”. Từ đó người ta tin rằng có Tiên bạn với Thánh Khổng Lồ linh ứng, nhiều
người đến xin chữa bệnh. Sau khi thi hương khoa Ất Mão (1915) hỏng, ông Tỉnh lúc
đó 19 tuổi về nhà dạy học và tham gia hoạt động cầu Tiên của Đàn. Bấy giờ ông đã
nhờ được một ông bạn của ông ngoại có tham gia phong trào Đông Du cho xem sách
Trung Quốc hồn của Lương Khải Siêu, cho nên thơ ca do ông cầm kê được
giáng có nhiễm nhiều ý nghĩa ái quốc, và Đàn Tiên ở nhà ông ngoại ông đã trở
thành một Đàn lớn có tiếng trong địa phương. Đến năm 1923 thì các Tiên Thánh
trong khoảng tháng 9 và tháng 10 âm lịch đã giáng bút những bài thơ ca hợp thành
một quyển kinh đặt tên là Đạo Nam Kinh do chính ông Tỉnh chấp bút. Thơ
ca giáng bút ra bài nào thì được khắc ván in ngay tại Đàn, thiện nam tín nữ đến
xin kinh (phải cúng giấy và đèn sáp chứ không phải nộp tiền) đêm ngày tấp nập.
Bản kinh ấy từ đầu đến cuối gần một trăm tờ chia làm hai tập Càn và Khôn. Tập Càn nhằm khuyên sĩ nông công thương, tập
Khôn nhằm khuyên phụ nữ về tam tòng
tứ đức, bài nào cũng thấm thía một tinh thần ái quốc dạt dào. Kinh này được ông
Đô Nam Nguyễn Văn Nhi, một người cũ của phong trào Đông Du làm thuốc ở Sài Gòn
phiên âm ra quốc ngữ mà nhờ nhà in Xưa Nay in để phát hành ở Nam
Kỳ.
Đó là tình hình
thành lập và hoạt động của một Thiện Đàn do chính một trong những người phụ
trách trực tiếp thuật lại với tôi. Còn cách tổ chức Thiện Đàn thì tôi ghi lại
đây những điều được trình bày tỉ mỉ trong bản Thiên thu kim giám chân
kinh của Hướng Lạc Hợp Thiện Đường phố Phù Liễn tỉnh Thái Nguyên được giáng
bút năm 1911. Trước hết là Quan Thánh Đế quân giáng thơ và cáo thị rằng: Hôm
trước ở cuộc họp quần chân tại hội Sùng Ninh thấy Trần Đại Vương (Hưng Đạo) dẫn
Phạm Trấn Đàn (Ngũ Lão) đến xin giáng phúc cho Đàn này, Ta cùng Văn Lã Nhị đế
(Văn Xương và Lã Đồng Tân) đề tâu (Ngọc Hoàng) ở Điện Thông Minh được châu phê
sắc cho các vị Âm Tướng giáng cho một bộ kinh Thiên thu kim
giám.
Văn Xương Đế quân
chỉ thị cách bày đàn:
Phía trên hết
chính giữa Đàn đặt tôn vị Ngọc Hoàng.
Ngoài cửa cấm môn
đặt hương án thờ các vị Thần ở Điện Thông Minh và các bộ Tam cung phối
theo.
Bên tả ở ban trên
thờ Trần Vương (Hưng Đạo), Đổng Vương (Phù Đổng Thiên Vương), ban giữa thờ Tản
Viên Thần, Lý Tôn Thần (Lý Phục Man), ban dưới thờ Nhị Thập bất
tử.
Bên hữu ở ban
trên thờ Dao Trì Vương Mẫu, ban giữa thờ Quan Âm bồ tát và Vân Hương Thánh Mẫu
(Liễu Hạnh), ban dưới thờ các công chúa (các Nữ Thần phụ theo Thánh Mẫu) nước
Nam phối theo.
Ngoài sân bày một
hương án để thờ các Thần trung nghĩa âm dương (trai gái).
Kê bút thì dùng
một cành đào mọc ở phương đông, dài 3 thước, chu vi 3 tấc, đầu lấy ba vuông sô
vàng bọc lại, trên xuyên một lỗ lấy tơ ngũ sắc bện dây xâu cho qua hai đầu ra
hai bên, mỗi bên tả hữu cho một tiểu đồng cầm đầu dây. Ở dưới bút đặt cái long
kỷ cao 3 thước, trên kỷ đặt bàn gỗ đào bọc vải đỏ, duy trước mặt chừa một lỗ
nhỏ.
Quan Thánh đế cầm
thanh long đao đứng hầu bên kê bút để nhận chữ (viết trên gạo hay cát đổ trên
bàn gỗ đào).
Văn Lã nhị đế
đứng hầu tả hữu.
Bên hữu cửa cấm
môn Đổng vương cầm gươm dài đứng hầu.
Cách bài trí các
Đàn khác đều là đại đồng tiểu dị. Như Đàn Hạc Châu thì không cho hai đồng tử cầm
hai đầu dây của kê bút mà lại chỉ có một người cầm kê bút mà vạch chữ gọi là chủ
bút, bên cạnh là một người thị độc đọc chữ trên gạo, một người thị tả nghe đọc
chữ gì thì viết chữ ấy lên giấy và một người chính tả viết rõ lại để đưa sang
nhà bên cho thợ khắc mà in ngay.
Xem hình thức
trên thì việc giáng bút đây là một hoạt động vốn có tính chất hoàn toàn tôn
giáo. Các vị Tiên Thánh giáng bút thì hoặc là Thiên Thần, tức các Thần do óc mê
tín và trí tưởng tượng của nhân dân Việt Nam hay Trung Quốc tạo nên, hoặc là
Nhân Thần là những danh nhân đời xưa do nhân dân thờ kính mà tôn làm Thần, do đó
có thể khẳng định rằng chuyện giáng bút là chuyện hoang đường (?). Thế thì có
phải các nhà nho ái quốc đã lợi dụng một cách có ý thức hoạt động tôn giáo để
che đậy ý đồ của mình, tức đã ngụy trang hoạt động chính trị của mình thành hoạt
động tôn giáo để che mắt quân thù không? Nếu vậy thì những thơ ca giáng bút đây,
hoặc là do người ta làm sẵn cho người chấp bút và người phụ trách đọc thuộc lòng
để khi làm lễ thì cứ thế mà viết ra và đọc ra, hoặc giả là do chính người chấp
bút hay người phụ trách đọc tự sáng tác ngay lúc ấy mà tức tịch viết ra hay đọc
ra (có người cho rằng chữ viết trên gạo khó đọc, người đọc muốn đọc ra chữ gì
cũng chẳng ai biết mà kiểm tra), chỉ cốt mượn tiếng quỉ thần tiên thánh mà gây
thêm lòng tin tưởng cho quần chúng. Nhưng xét thực
tế thì cả hai trường hợp ấy đều có thể loại trừ. Thứ nhất, trong
thực tế không có người nào trong điều kiện bình thường mà có thể tức tịch ứng
bút thành thơ thành ca thao thao bất tuyệt, mà có những câu thơ hay những bài có
thể đặt vào loại văn rất hay được. Nếu quả có người làm được như thế thì người
đó cũng là “Tiên” là “Thánh” rồi. Như thế là trường hợp thứ hai có thể loại trừ.
Nếu là thơ ca làm
sẵn thì lại có một điều khó hiểu là xét nội dung các bài có nhiều khi thấy rằng
thực tế trong số những người tham gia thiện đàn không ai là có thể có những kiến
thức và tư tưởng cùng là văn khí như ở trong thơ ca ấy. Hãy xem trường hợp ông
Nguyễn Ngọc Tỉnh viết Kinh Đạo
Nam. Ông
Tỉnh là một người nho học đi thi hương hỏng trường nhất thì thôi học, Hán học
của ông kể cũng còn yếu, sách tân thư cũng chỉ mới đọc Trung Quốc hồn của
Lương Khải Siêu thôi. Thế mà xem kiến thức trong kinh ấy thì phải là người tiệp
thiệp kinh sử cùng Dịch Lão và đọc nhiều tân thư mới làm nổi. Kinh có thể xem
như là một tác phẩm tổng hợp về kiến thức và tư tưởng mới của giới nho học cả
một thời mà thực tế trong điều kiện bình thường ông Nguyễn Ngọc Tỉnh không làm
nổi, chính ông cũng tự nhận như vậy. Khi tôi được gặp và cộng tác với ông mấy
năm ở Viện Sử học thì ông cũng gần bảy chục tuổi rồi, nhưng còn rất sáng suốt
nên vẫn còn làm công tác phiên dịch. Ông là người rất chất phác, hiền lành, thực
thà ‘như đếm’, đã từng tham gia cách mạng và ở tù nhiều lần, lần đầu vào năm
1929 sau khi chính quyền thực dân xét nhà và tịch thu tất cả những tập sách và
bản khắc gỗ in Kinh Đạo Nam, lần thứ hai
vào năm 1930 vì tội gia nhập Đông Dương Cộng sản Đảng bị đày Côn Lôn đến năm
1936 thì về, lần thứ ba vào năm 1939 bị đày Sơn La đến năm 1940 thì về, ở nhà
lấy việc dạy học để bí mật phục vụ cách mạng. Những điều ông nói với tôi về
Thiện Đàn, tôi không có lý do gì mà ngờ là ông không nói thực. Ông đều bác bỏ
tất cả những nghi vấn như tôi trình bày theo hai trường hợp trên kia. Tôi hỏi
đối với Tiên Thánh ông nghĩ thế nào và trong khi cầm kê thì tâm trạng của ông ra
sao, thì ông nói rằng đối với Tiên Thánh thì ông xem là ‘có có không không’,
không nghĩ là có thật nhưng cũng không phủ nhận hẳn. Khi cầm kê ông vẫn tỉnh táo
và vẫn biết hết mọi việc xảy ra xung quanh, duy khi nghe đọc văn cầu nhịp điệu
du dương và ngửi mùi hương trầm bát ngát thì có hơi chuếnh choáng như uống một
chén rượu và cảm thấy có cái gì cứ đưa tay mình ở trên mâm cát, chứ tự mình thì
không biết chữ gì. Song khi nghe đọc chữ gì mà mình biết là không đúng thì cái
tay tự nhiên cũng có cái gì mình không làm chủ được cứ đưa kê gạch ngang gạch
dọc mà sổ đi, đến khi nào đọc đúng chữ thì mới khuyên để nhận là đúng. Ông lại
nói rằng sau buổi lễ mà đọc lại những bài ghi được thì có những điểm tự ông
không hiểu, có khi sau phải tra cứu lâu mới rõ nghĩa, và ý tứ thì có những điều
ông chưa hề nghĩ đến bao giờ. Nhưng một điều nên chú ý là nếu người cầm bút mà
không biết chữ thì có khi vạch không ra chữ, có khi thành chữ nhưng không thành
câu cú gì; chỉ người có học, có biết làm thơ đôi chút mới viết thành thơ được,
duy thơ ca giáng bút hay hơn thơ người ấy thường làm nhiều. Ông Tỉnh vốn có
khiếu làm thơ, thơ của ông có nhiều câu cảm khái và nhẹ nhàng, có duyên, nhưng
nội dung thường cũng chẳng có gì là độc đáo cụ thể, thế mà thơ ca của ông viết
khi cầm kê thì về hình thức cũng như về nội dung trội hơn nhiều. Như vậy là
nghĩa lý gì?
Trong việc cầu kê
và giáng bút thường thấy trong xã hội cũ, vốn có mà không phải ít những trường
hợp kẻ vô lương lợi dụng lòng mê tín của nhân dân mà bày trò lừa bịp để kiếm ăn.
Nhưng trong những trường hợp có ý nghĩa chính trị tôi nhắc ở đây, tôi không tin
rằng có việc lừa bịp như thế. Vậy thì sự thực là thế nào? Nên nhớ người cầm kê
phải là người biết chữ ít nhiều và cũng có biết làm thơ, dù là thơ dở, thì mới
có việc giáng bút thành thơ ca được, duy thơ ca giáng bút so với tình hình bình
thường của người ấy thì làm mau hơn và hay hơn nhiều. Những kiến thức và tư
tưởng trong thơ ca ấy nếu không phải riêng người cầm kê có được thì cũng phải là
kiến thức và tư tưởng của mọi người có mặt ở đấy có thể có, và nếu như những
người có mặt ở đấy không có đủ được thì cũng phải là kiến thức và tư tưởng của
những người khác ở đương thời mà chính bản thân người cầm kê và những người trí
thức có mặt ở đấy đã từng có tiếp xúc rồi. Có thể là trong không khí có tính
chất tôn giáo đặc biệt bấy giờ, phần nhiều vào lúc nửa đêm hết sức thanh vắng,
cái không khi dễ gây cảm xúc đặc biệt đã tạo cho người cầm kê một tâm thái đặc
biệt khiến cái mà người ta gọi là tiềm thức hay cái vô thức của người cầm kê và
của mọi người có mặt ở đấy hoạt động thế nào đó mà kết quả khiến năng lực sáng
tạo văn nghệ của người cầm kê đã tăng lên bao nhiêu và hình như phản ánh được cả
bao nhiêu kiến thức tư tưởng của hoàn cảnh và thời đại mà trực tiếp hay gián
tiếp họ đã có thể tiếp xúc, có khi là một cách ngẫu nhiên và vô thức (những cái
chưa ai từng thấy, từng nghe, từng nghĩ trong xã hội đương thời thì không hề có
trong thơ ca giáng bút). Tôi nghĩ đây không phải là một hiện tượng thần bí gì,
chỉ là một hiện tượng tự nhiên mà khoa học chân chính chưa giải thích hay chưa
xem là đối tượng nghiên cứu cũng như bao nhiêu hiện tượng tự nhiên khác. Hiện
tượng ấy cố nhiên là tôi không cắt nghĩa được, cứ xin ghi lại một cách khách
quan để cho khoa học khám phá sau này.
Trở lại câu hỏi
tôi đặt ra ở trên kia, tôi nghĩ rằng đây chính là chuyện một số văn thân ái
quốc, không thể truyền bá tư tưởng của mình một cách công khai cho nên vốn có ý
thức lợi dụng hoạt động tôn giáo này mà làm việc tuyên truyền. Nhưng việc lợi
dụng hoạt động tôn giáo ở đây không giống việc Hồ Chủ tịch từng làm ở Xiêm, lợi
dụng cơ hội đồng bào ta tụ họp lễ Đức Thánh Trần, làm bài ca ca ngợi sự nghiệp
Đức Thánh Trần cho người ta đọc khi cúng lễ, do đó mà truyền bá tinh thần yêu
nước, biến một hoạt động vốn chỉ có nội dung tôn giáo mê tín thành một hoạt động
có nội dung chính trị. Ở đây thì người lợi dụng hoạt động tôn giáo không đến nỗi
như người mê tín cầu phúc thông thường, nhưng cũng tin là có Tiên Thánh giáng
bút thật, cho nên trong khi muốn lợi dụng tôn giáo thì lại bị tôn giáo hấp dẫn
mà tác động trở lại khiến ý thức lợi dụng lúc đầu đã bị chìm ngập vào không khí
tôn giáo thực kèm theo ý nghĩa chính trị. Trong các bộ kinh giáng bút này phần
sáng tác của người cầm kê cố nhiên là có, nhưng đồng thời phải nhận là có sự
tham gia của tập thể một cách hơi lạ lùng. Có thể xem đấy
là những tác phẩm văn học dân gian độc đáo có lẽ ít thấy ở các nước khác và rất
đáng được nghiên cứu...
Ông Nguyễn Ngọc
Tỉnh kể lại rằng trong thời gian giáng bút và ấn hành bản kinh này thì lý trưởng
và phó lý xã Hạc Châu sợ liên lụy nên đã báo cáo cho quan sở tại. Chính quyền
thực dân giao cho Bùi Bằng
Đoàn bấy giờ làm tri phủ Xuân Trường điều tra. Bùi Bằng Đoàn cho
vợ có sai nha đi theo đến Đàn để thử, viết một tờ sớ bỏ vào phong bì kín. Hàng
ngày khách thập phương qua lại để lễ và xin kinh rất đông, nhiều người sang
trọng, cho nên chẳng ai để ý đến đó là bà phủ Xuân Trường.
Theo lệ thì người
đến lễ đặt phong bì kín lên ban thờ, Thánh phải giáng bút chỉ tên người ấy, có
đúng thì người ta mới tin. Thánh bèn giáng bút cho ngay một câu thơ
rằng:
Côn được thiên
trùng thương hải ngoại
Bằng đoàn vạn lý
tử tiêu gian
(Cá côn nhảy ngàn
lớp sóng ngoài biển xanh
Chim bằng bay vạn
dặm giữa trời tím tía)
Thế là chỉ rõ họ
tên Bùi Bằng Đoàn ra bằng một câu thơ, mà các nhà nho học đều nhận là rất hay,
bình thường khó có người tức tịch làm ra được, huống chi người cầm kê đây là
người sức học cũng tầm thường.
Bùi
Bằng Đoàn do đó tin là có tiên thánh giáng bút thực, báo cáo lên tỉnh rằng đó là
việc tôn giáo thực chứ không phải là hoạt động chính trị như hương lý
báo. Sau đó án sát
Nam Định là Mai Toàn
Xuân cũng cho vợ đến lễ đặt phong bì kín và thử như thế. Bùi Bằng
Đoàn là người nho học có tiếng nên được giáng bút một câu thơ chữ nho. Mai Toàn
Xuân xuất thân là bồi tây nên ít học, chỉ được giáng bút một câu thơ nôm, nhưng
cũng vạch rõ cả ba chữ họ tên như vẽ ra:
Đầu cành mai mới
điểm hoa
Non sông bốn bể
đâu mà chẳng xuân?
Sau
đó tỉnh báo cáo lên Thống sứ rằng đây chỉ là một hoạt động tôn giáo, không nên
ngăn cấm. Vì thế mà bản
kinh in xong vào mùa đông năm 1923 được phát hành ở Bắc Kỳ, rồi sau đó được phát
hành bằng quốc ngữ ở Nam Kỳ. Các mùa hè năm 1924, 1925, 1926 ông Nguyễn Ngọc
Tỉnh đều được Đồng Lạc khuyến Thiện Đàn ở Nam Định mời đến giảng Kinh Đạo Nam cho tín đồ của
Đàn ấy nghe. Nhưng đến năm 1929, trong cuộc đàn áp đối với các đảng bí mật tiến
hành ở khắp ba Kỳ, chính quyền mới soát nhà mà tịch thu tất cả bản kinh còn lại
và các tấm ván in để hủy đi và bắt đàn chủ là ông Nguyễn Đức Hinh và chủ bút là
ông Nguyễn Ngọc Tỉnh làm án giam...".
Đào Hùng (VHNT
online)
LỜI
NHÀ XUẤT BẢN
Trong tay các bạn
là một bản Kinh lạ. Tập Kinh được hình thành qua giáng bút của các Tiên, Thánh.
Sao lại gọi là Kinh Đạo
Nam? Trong tập Càn, lời giáng của Châu đại tướng quân có
đoạn: “Phàm là (Kinh) Đạo Nam
ý muốn nói đến Đạo nước
Nam ta đấy. Mà (sở dĩ)
sáng tác ra Kinh Đạo Nam này
chính là vì các ngươi sinh ra tại phương Nam, dòng dõi đều thuộc họ tộc phương
Nam, cho nên Kinh này viết
bằng chữ Nam (Nôm), không đến nỗi mộng không
khớp mộng mà không nhập tâm.
Tốt thay Đạo
Nam! Đẹp thay Đạo Nam! Thực là
tiếng chuông lớn thức tỉnh răn đời, là chiếc bè báu cứu
người...”.
Tháng 9, tháng 10
âm lịch năm 1923 Kinh Đạo Nam ra đời do các Tiên, Thánh giáng
bút, viết bằng chữ Nôm, được khắc ván in ngay tại Đàn. “Bản Kinh này từ đầu đến
cuối gần 100 tờ, chia làm hai tập Càn và Khôn. Tập Càn nhằm khuyên sĩ - nông - công -
thương, còn tập Khôn khuyên phụ nữ về tam tòng tứ
đức, bài nào cũng thấm thía một tinh thần ái quốc dạt dào” (Đào Duy Anh). Qua
phần Lời nói
đầu và phần Khảo sát văn
bản của người phiên âm – nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Thánh Xuân –
và phần Tìm hiểu phong
trào Thiện Đàn đối với cuộc vận động ái quốc – Kinh Đạo Nam trong
Nhờ nghĩ chiều
hôm, chương 8, của học giả Đào Duy Anh, bạn đọc sẽ có cái nhìn
thấu đáo hơn về nội dung của tập Kinh này.
Ngoài những điều
mà tự thân Kinh Đạo Nam chuyển tải, ở một góc nhìn khác chúng tôi nhận thấy bản
phiên âm tiếng Việt tập Kinh này còn mang một giá trị nhân văn khác nữa, đó là
giá trị của sự tiếp nối nguồn mạch học thuật, điều mà người xưa gọi là học
phong, là sự truyền
thừa. Công trình này thành đạt bởi tâm huyết của hai thế hệ, của
thầy và trò, của người học trước kẻ học sau. Phải chăng đây là điều nhắc nhở đối
với kẻ đọc sách rằng, nên có niềm tin, cùng chia sẻ và trao gửi cho thế hệ tiếp
nối. biết trân trọng và hoàn thiện việc dang dở của người đi trước. Trong hoàn
cảnh và ý niệm tốt lành, sự gửi gắm và tiếp nhận sẽ trở thành duyên may và hạnh
phúc cho những người đi trên biển học – vốn không có bờ.
Nhà
xuất bản Lao động trân trọng giới thiệu đến bạn đọc tập sách này – trong tủ sách
nghiên cứu, biên khảo Khơi lại nguồn
xưa – với hy vọng tìm được sự đồng thanh, mặt khác cũng mong bạn
đọc am hiểu góp ý giúp cho.
Nhà xuất bản Lao Động
Nguồn http://www.kynguyentamlinh.com
No comments:
Post a Comment