Ghi chú Nghệ thuật của Hồng Hoang
Nguyễn Hồng Hưng
.
Lác đác trong các trang sách có dùng
thuật ngữ “nghệ thuật đương đại”. Hai chữ đương đại, là một khái niện
mới của nghệ thuật xuất hiện sau khái niệm nghệ thuật hậu hiện đại
(khoảng 1989-1990). Nhưng cũng không thể hiểu khái niệm nghệ thuật đương
đại theo ý nghĩa lịch đại. Không thể hiểu cứ sáng tác nghệ thuật ở
thời đại này đây, thì sẽ có tác phẩm nghệ thuật đương đại, cho dù tác
giả không thể tránh được ảnh hưởng của thời đại (lịch đại) mà anh ta
đang sống. Bởi ngay tại thởi điểm “bây giờ đây”, nếu thích, có thể làm
nghệ thuật cổ điển hay hiện đại vẫn được.
Nghệ thuật cổ điển, khác với nghệ thuật
hiện đại, cũng như nghệ thuật hiện đại khác với nghệ thuật hậu hiện đại
và đương đại. Sự khác là do khi nghệ thuật phát triển, đã xuất hiện
những quan niệm thẩm mĩ khác nhau, tạo ra khái niệm thẩm mĩ khác nhau,
dẫn tới cách tư duy đề tài, cách thao tác làm tác phẩm cụ thể khác nhau.
Ví dụ trong nghệ thuật thị giác, hội họa
cổ điển rất cần tới một cặp mắt rất tinh sáng với đôi tay có kĩ năng
thể hiện tài khéo để dùng bút vẽ chấm vào màu, mà chế tác mô phỏng hiện
thực.
Nghệ thuật hiện đại có nhiều trường phái
như “Ấn tượng”, “Siêu thực”, “trìu tượng”, “biểu hiện”…v.v Vẫn là dùng
bút vẽ như nghệ thuật cổ điển. Nhưng cũng đã khác, vì có tôn chỉ chung
là không cần phải vẽ mô phỏng tinh vi, giống hệt như mắt nhìn thiên
nhiên thật. Nên nhu cầu đòi hỏi kĩ năng ở tay và mắt, không khắt khe,
siêu phàm, như tay và mắt của họa sĩ cổ điển. Mặt khắc lại rất cần một
cái nhìn trí tuệ trực tiếp của thị giác, để biểu hiện những cấu trúc màu
và cấu trúc hình thức, làm sốc ghê gớn đồng thời làm giầu những tâm hồn
thưởng lãm tác phẩm đó. Những mĩ từ như “bữa tiệc màu sắc”, dùng mô tả
thụ cảm hội họa có từ khi xuất hiện hội họa hiện đại.
Thẩm mĩ của nghệ thuật hiện đại, coi
trọng hiệu quả bầy tỏ cái tôi nghệ sĩ, và hậu quả tác động lên tâm lí
người xem, bằng mọi hành vi vẽ lên trên tác phẩm thị giác của tác giả.
Hai điều duy nhất còn lại của hội họa
hiện đại còn giống với hội họa cổ điển là vẫn sử dụng màu vẽ lên trên bề
mặt được chuẩn bị trước nào đó, để làm thành tác phẩm. Và chỉ cảm thụ
và nhận thức tác phẩm bằng thị giác. Không cảm thụ bằng các giác quan
khác.
Nghệ thuật đương đại cũng có nhiều ngành
khác nhau như “ nghệ thuật sắp đặt”, “nghệ thuật trình diễn”, “nghệ
thuật khái niệm” , “nghệ thuật kỹ thuật số”, “nghệ thuật video”…v.v.Có
những quan niệm khác hẳn nghệ thuật cổ điển hay hiện đại, đã hình thành
một khái niệm nghệ thuật khác. Đương nhiên cũng đem đến cách làm tác
phẩm và cảm thụ tác phẩm không còn như nghệ thuật cổ điển và hiện đại.
Cụ thể là nghệ thuật thị giác đương đại,
không có nguyên tắc định chế cho phương pháp làm tác phẩm. Tác phẩm thị
giác đương đại có thể làm với bất kì hình thức biểu hiện nào, không nhất
thiết phải dụng bút vẽ lên bề mặt tranh. Có thể xây, đúc, hàn, chiếu
video, hay dùng đèn pha, dùng giấy bìa cắt dán, buộc dây, dùng vải bọc,
dùng nước, dùng động cơ, xe lu lăn đường, xe cần cẩu…Thậm chí cả thuốc
nổ…v.v. Bài trí tại bất kì không gian nào do tác giả lựa chọn. Và cho
phép cảm thụ bằng tất cả các giác quan: thính giác-thị giác-xúc
giác-khứu giác-vị giác.
Nghệ thuật đương đại, là một nghệ thuật
liên phương tiện, đa kĩ năng, kĩ thuật của nhiều ngành ngoài nghệ
thuật, phối hợp phục vụ cho ý tưởng tác phẩm. Và ý tưởng tác phẩm sẽ
quyết định chất liệu và hướng thể hiện tác phẩm. Cũng vì đặc điển của
khái niệm nghệ thuật đương đại, nên hầu hết tác phẩm nghệ thuật đương
đại rất khó mua bán, hay lưu giữ tại các bảo tàng hoặc gallery. Một thể
loại nghệ thuật bẩm sinh phi thương mại. Hiện nay đã có nhiều bảo tàng
nghệ thuật muốn xóa bỏ điều này.
Tác giả thực hành những tác phẩm như thế,
được gọi là “ Nghệ sĩ đương đại”, hay “Nghệ sĩ nghệ thuật thị giác”.
Phương pháp thẩm định cái đẹp của nghệ thuật đương đại, không còn giống
nghệ thuật hiện đại và những nghệ huật trước nó nữa. Xong đương nhiên
không phải khái niện cái đẹp của nghệ thuật đương đại có thể phủ nhận
cái đẹp của những trào lưu nghệ thuật khác có trước nó. Mỗi khái niệm
nghệ thuật mới xuất hiện luôn tỏ ra chân lí hơn cái cũ, khắc phục được
hạn chế của khái niệm nghệ thuật cũ, và thường hay kèm theo những tuyên
ngôn “…khái niện nghệ thuật kia không hợp thời, khái niệm nghệ thuật này
đã chết từ lâu…v.v.của những đại biểu thủ lĩnh sôi sục nhiệt huyết và
lí tưởng thẩm mĩ mới”, làm nức lòng những nghệ sĩ loại sau an tâm thủ
đắc tính hợp thời trang vì sinh hoạt trong cộng đồng nghệ thuật đương
đại.
Thực tế lịch sử nghệ thuật luôn rõ ràng
“không một trường phái nào , một khái niện nghệ thuật mới tinh nào có
thể phủ nhận nổi các bậc nghệ sĩ tinh hoa thiên tài, ở mọi trường phái
nghệ thuật của nhân loại. Có thể xét từ thời nhệ thuật chưa có chữ viết
để bầy tỏ “khái niệm nghệ thuật” của nghệ sĩ. Thời đó là thời nghệ thuật
nguyên thủy.
Bản chất cốt lõi của phát triển nghệ
thuật nói chung, chính là lịch sử xuất hiện các khái niệm nghệ thuật.
Các họa sĩ đương đại đang phát triển theo thời đại của mình, đó là tự do
của nghệ thuật. Nhưng ai đó thích sáng tác theo những khái niện nghệ
thuật xưa, đương nhiên cũng là tự do của nghệ thuật.
Lại nói đến thực tế. Thực tế sáng tác của
một nghệ sĩ có nhu cầu từ nội tâm sâu, thường không bận tâm gì tới lí
luận nghệ thuật về lí thuyết các khái niện nghệ thuật. Họ sáng tác vì
chính bản thân họ. Nếu không sáng tác như thế, họ sẽ không chịu nổi khi
sáng tác, mà không làm như thế…như thế…
Mọi lí luận về những khái niệm nghệ
thuật, đều là cách bầy tỏ nghệ thuật bằng phương pháp khác. Phương pháp
của những con chữ với: ngữ pháp, mĩ học, triết học, những phương pháp
rất tuyệt vời trí tuệ…Nhưng nhất định không phải là những cấu trúc hình
thức của nghệ thuật thị giác. Một thứ hình thức mà mọi chữ viết cố gắng
cùng tột cũng chỉ tiệm cận với nghệ thuật mà thôi.
Quần chúng vẫn rất cần những chỉ dẫn tiệm
cận đó. Và quần chúng tạo ra xu thế thời đại có lợi về tiền bạc và
tiếng tăm cho không ít nghệ sĩ hợp thời. Lại thấy rõ vai trò có tính
thời sự, tạo dư luận và hướng dẫn dư luận của giới phê bình lí luận nghệ
thuật. Sẽ là tồi tệ văn hóa nghệ thuật cho cộng đồng nào có những phe
nhóm phê bình nghệ thuật háo danh cơ hội.
Giả tưởng một nhân loại khác có đầy đủ
những tư liệu bằng chữ viết, về nghệ thuật thị giác của loài người chúng
ta. Xong họ không hề có một mảnh tư liệu nào bằng hình về nghệ thuật
thị giác của chúng ta. Liệu họ có cảm thụ được không, nghệ thuật thị
giác của con người. Hỏi?
Có thể họ hiểu theo văn bản và suy
luận…Điều này tương tự như uống nước: “ai uống người đó hết khát”. Người
không uống sẽ suy luận. Gọn lại là lí luận nghệ thuật là cách trình bầy
khác của nghệ thuật. Không phải là nghệ thuật. Nhưng dù sao các nhà phê
bình lí luận nghệ thuật của chúng ta không bị lâm vào tình trạng không
có tư liệu về hình ảnh. Ấy thế mà lịch sử phê bình và lí luận nghệ thuật
chưa hề có trường hợp nào định hướng hay tiên đoán được phát triển của
nghệ thuật. Ngay hiện nay, các nhà phê bình lí luận nghệ thuật không thể
tiên đoán sau nghệ thuật đương, đại sẽ xuất hiện trào lưu nghệ thuật
nào? Chỉ có cách là chờ đợi sáng tác ở một vài nghệ sĩ thiên tài không
chịu nổi nghệ thuật đương đại. Bứt phá. Sau đó các nhà lí luận phê bình
sẽ làm việc của họ. Không có họ nhân loại sẽ bị xa lạ và không hiểu được
nghệ thuật ở tầm mức phổ quát. Một mảng lớn văn hóa nhân loại bị hẫng
hụt. Các nghệ sĩ thực tài không bao giờ được biết đến, cho dù việc này
chỉ có ý nghĩa với cá nhân nghệ sĩ.
Nghệ thuật và phê bình nghệ thuật tựa như
hai mặt của một cái mâm đồng thau, một mặt là những cấu trúc hình
thức, mặt kia thuần túy là chữ. Cả hai mặt cùng bàn nhiều về hạnh phúc
con người.
Lại nói về các nghệ, sĩ dù ở thời đại nào
cũng là số ít trong mọi cộng đồng. Cộng đồng và cả nghệ sĩ đương thời,
cùng thiệt thòi mọi đằng nếu không có những người làm phê bình lí luận
nghệ thuật, diễn giải, bắc cầu, và phát triển nghệ thuật bằng cách khác
của nghiệp vụ lí luận phê bình nghệ thuật.
.
29-6-2013.
H6 Bạch Mã- cư xá Bắc Hải TP. HCM