BÀI HỌC CHO HÔM NAY
TƯ
TƯỞNG VÀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ
CỦA TRẦN QUỐC TUẤN – HƯNG ĐẠO VƯƠNG
TƯ
TƯỞNG VÀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ CỦA TRẦN QUỐC TUẤN – HƯNG ĐẠO VƯƠNG.
Trần Xuân Đạt
Thế kỷ X - XV, xã hội Việt Nam và nền văn
hoá Việt Nam có sự phân hoá rõ rệt, thời điểm này, dấu ấn của quá trình Hán hoá
rất rõ nét, diễn ra trong mọi ngóc ngách của cuộc sống xã hội đương thời toàn
diện và sâu sắc. Đặc biệt sự ảnh hưởng sâu rộng đến hệ tư tưởng và hình thái phát triển xã hội, ý
thức của giai tầng thống trị xã hội đương thời. Có thể coi thời điểm này là
giai đoạn phát triển cực thịnh của văn hoá “ngoại lai” xâm thực hầu hết nền văn
hoá bản địa, với ba dòng tư tưởng lớn thống trị xã hội là: Nho giáo; Phật giáo
và Lão giáo. Tuy nhiên, có một nền văn hoá thuần Việt vẫn âm thầm tồn tại trong
dân gian dưới hình thức các lệ tục như tục thờ Mẫu (Đạo Mẫu) chi phối một phần
đời sống tâm linh của người dân Việt.
Khởi đầu của quá trình Hán hoá là sự xâm
thực của hệ tư tưởng Nho gia, chi phối mạnh mẽ đời sống tinh thần xã hội từ
nhiều thế kỷ, gián tiếp và trực tiếp quy định hình thức tổ chức bộ máy hành
chính nhà nước cho đến hành vi ứng xử, giao tế giữa các tầng lớp cư dân.
Tiếp đến là Phật giáo, du nhập vào Việt Nam từ
nhiều thế kỷ trước nhưng thật sự được ghi nhận trong lịch sử từ thế kỷ thứ II
với sự xuất hiện của hệ thống chùa tháp trên vùng đất Luy Lâu. Dấu ấn hưng
thịnh nhất từ khi Phật giáo du nhập vào nước ta là giai đoạn Lý – Trần với sự
xuất hiện của thiền phái Trúc Lâm và tư tưởng nhập thế mạnh mẽ của các tăng ni
phật tử, hệ thống chùa chiền cũng được tôn tạo, xây dựng mới hàng loạt, rộng
khắp trên vùng đất xứ Đông.
Đạo giáo; tồn tại song hành cùng phật
giáo, nhưng theo bước chân tu hành, truyền giáo của các thuật sĩ đến tận vùng
núi Phao Sơn, Ngũ Nhạc, Phượng Hoàng Chí Linh làm nơi tụ hội.
Trong quá trình xâm nhập vào nền văn hoá
bản địa, các hệ tư tưởng lớn Nho; Phật; Đạo đều có xu hướng triệt tiêu, phủ
định nhau và cũng chịu sự tác động ngược của quá trình bản địa hoá (văn hoá
Việt) để cùng tồn tại, thích ứng, phù hợp theo quy luật thịnh suy tương ứng mỗi
triều đại.
Đầu thế kỷ thứ XIII, sau những biến động
lớn trong xã hội, triều đại nhà Lý suy vi, đời sống dân tình lầm than cơ cực,
loạn lạc nổi khắp nơi, nội bộ triều chính lục đục, quyền thần cầu lợi riêng,
dèm pha mưu hại lẫn nhau, khiến vận nước nghiêng ngả. Đáng chú ý là loạn năm
Bính Thìn (1208), Phạm Du làm loạn ở Nghệ An, Phạm Bỉnh Di lĩnh mệnh Cao Tông
đi dẹp loạn; Phạm Du thua bị tịch thu hết điền sản, tỳ thiếp, gia nô bị sung
công, bèn mua chuộc một số đại thần trong triều dèm pha Phạm Bỉnh Di hòng trả
mối tư thù. Lý Cao Tông nghe lời vu vạ của Phạm Du, cho bắt Phạm Bỉnh Di về
triều và giết hại. Hành động mù quáng này đã khiến không ít trung thần bất
bình, phản kháng. Trong số các trung thần có Quách Bốc là bộ tướng của Phạm
Bỉnh Di, khi biết chủ soái bị giam giữ oan khuất trong ngục, liền huy động quân kéo đến tấn công kinh thành mục
đích cướp ngục cứu Phạm Bỉnh Di, Cao Tông hoang mang, lại nghe lời sàm tấu của
các quyền thần vội vàng giết hại Bỉnh Di và đem toàn bộ gia quyến hoàng tộc
trốn lên Tam Nông – Phú Thọ, dựa vào địa hình đồi núi hiểm trở, hẻo lánh đóng
đại bản doanh cố thủ.
Riêng Thái tử Sảm trên đường lẩn trốn,
lưu lạc về vùng Tức Mặc, được anh em họ Trần, một hào phú trong vùng ra sức
giúp đỡ chiêu mộ quân sĩ, nghĩa binh phất cờ dẹp loạn và đón vua Lý Cao Tông về
lại kinh thành. Hành động này đã báo trước một giai đoạn phát triển mới của xã
hội cũng như sự bức thiết cần phải có sự
thay đổi lớn trong ván bài chính trị đương thời.
Sự thực năm 1225, biến cố lịch sử trọng
đại đã diễn ra bằng sự thay đổi triều đại nhà Trần thay thế nhà Lý cầm quyền
trị vì đất nước, mà nhân vật lịch sử nổi tiếng là nhà chính trị kiệt xuất Trần
Thủ Độ giữ vai trò trọng yếu trong ván bài này. Không mất một hòn tên, mũi đạn,
không lãng phí một giọt máu của sĩ tốt. Bằng sự mềm dẻo, uyển chuyển nhưng rất cương
quyết của một nhà ngoại giao và cái nhìn toàn cục của một nhà chính trị kiệt
xuất, cái dũng của một chiến tướng trước giờ lâm trận, Thủ Độ đã giúp cho tôn
tộc nhà Trần giây phút hoá thân trọn vẹn, vươn tới tột đỉnh quyền lực.
Trần Quốc Tuấn (1226 – 1300) sinh ra và trưởng
thành trong giai đoạn nhà Trần bắt đầu xây dựng và củng cố quyền lực. Đời sống
xã hội thời kỳ đầu Trần đang dần đi vào quỹ đạo phát triển ổn định đồng thời
với các sách lược tiến bộ do nhà Trần đặt ra, như ruộng đất vẫn thuộc quyền điều
tiết của vua qua việc thu tô, thu thuế, các thân vương, được phép sở hữu mỗi
vùng đất và tuyển mộ dân phu, gia nô, nghĩa sĩ cho việc canh giữ bảo vệ và khai
khẩn ruộng đất hoang hoá, cùng công việc mở rộng lãnh địa hình thành những tấm
phên dậu chắc chắn góp phần giữ vững và phòng thủ cho kinh thành từ xa, chống
lại những âm mưu tao loạn và sự dòm ngó lấn chiếm của các nước lân bang.
Kinh tế xã hội phát triển, ngành sản xuất
nông nghiệp được đưa lên hàng đầu với chính sách “Ngụ binh ư nông” đã giải phóng/
tận dụng triệt để sức lao động nhàn rỗi trong bộ máy hành chính, sản lượng nông
nghiệp nhờ vậy mà tăng cao, tri thức xã hội cũng được mở mang chú trọng phát
qua các chính sách khuyến học, cầu hiền tài của triều đình.
Trần Quốc Tuấn lớn lên trong bối cảnh xã
hội tương đối ổn định và phát triển, nhưng trong nội bộ dòng tộc vẫn tồn tại
những mâu thuẫn gay gắt, nên ông cũng chịu ít nhiều ảnh hưởng về văn hoá cũng
như nhân cách. Là người từ nhỏ đã được nhiều người nhận xét là bậc kỳ tài, với
bản tính thông minh nhanh nhẹn, cùng ý thức tự học tập, trau dồi kiến thức, lại
được tiếp cận với những tri thức tinh hoa của thời đại là các hệ tư tưởng lớn
như Nho, Phật, Đạo từ các nhà nho minh kinh bác sử; những vị tăng ni sư sãi,
các đạo sĩ, các nhà phương thuật đương thời. Nên trong con người Trần Quốc Tuấn
hội tụ rất nhiều yếu tố tiêu biểu của thời đại như:
Tính cách quyết đoán và tầm nhìn chiến
lược cùng tài năng kinh bang tế thế của Trần Thủ Độ trong quá trình cùng Trần
Tự Khánh bình định các thế lực phiến loạn, đặt nền móng đế vương cho tôn tộc
nhà Trần, biểu hiện rõ nhất và đầy đủ nhất sau khi Trần Tự Khánh – một viên
dũng tướng trụ cột của triều đình qua đời, vai trò quyền lực trong triều dần
thâu tóm vào tay Trần Thủ Độ, thế cờ nước và vận hội phát triển mới của quốc
gia đại cục đòi hỏi cần phải có những nước đi táo bạo, quyết liệt, Trần Thừa đã
từng có lời cùng Trần Thủ Độ khi bàn về vận nước: “Được nước hay hoạ diệt tộc
cũng từ đó mà ra cả”. Về phía Trần Thủ Độ, sau khi dàn xếp cho Trần Cảnh lên
ngôi, các thế lực trong nước dựng cờ khôi phục giang san nhà Lý nối nhau nổi
dậy, khiến thế nước giữa đà suy vi lại thêm lao đao, nghiêng ngả. Thù trong đã
vậy, giặc ngoài biên ải cũng đua nhau nhòm ngó, âm mưu thôn tính lâu dài, Trần Cảnh – Vị vua triều Trần khi ấy còn quá nhỏ,
Trần Thừa trong vai trò Thái thượng hoàng cũng nhất nhất tuân theo mọi mưu lược
của Thủ Độ, như việc dàn xếp cho Trần Thừa cầm quyền nhiếp chính trong một năm
để Trần Thủ Độ rảnh tay đối phó với các thế lực đang lăm le nổi dậy chống triều
Trần. Và chỉ trong một năm đó, Trần Thủ Độ thân chinh đốc thúc quân lính triều
đình đi đánh dẹp, mọi cuộc nổi dậy đều bị khuất phục trước sức mạnh bình định
của quân đội triều đình, giang sơn thâu về một mối, nơi nơi lòng dân quy thuận,
kỷ cương phép tắc được chấn hưng. Từ điểm nhìn này, ta thấy rõ một Trần Thủ Độ
không những trổ rõ tài năng chính trị mà còn cực kỳ xuất sắc trong mặt trận
quân sự, bày binh, bố trận thu phục nhân tâm của một người có thực tài kinh
bang tế thế.
Tầm nhìn chiến lược và óc quan sát đại
cục của Trần Thủ Độ cũng rất nhạy bén, quyết liệt. Để đảm bảo vững chắc thành
quả trật tự xã hội và cũng là bảo đảm quyền lợi kinh tế, chính trị của toàn thể
dòng tộc triều Trần, tránh nguy cơ sa lầy trong vết xe triều Lý, Trần Thủ Độ đã
vượt qua mọi điều tiếng, vượt qua mặc cảm phán xét của lịch sử, ra sức ép Trần
Thái Tông phế hoàng hậu Chiêu Thánh
xuống làm công chúa, vì lí do Chiêu Thánh không thể sinh nở, đồng thời ép gả
Thuận Thiên - vợ của Trần Liễu – Anh ruột vua - cho Thái Tông, Thuận Thiên khi
ấy đã có thai, gây nên mối hiềm khích lớn trong nội bộ triều tộc, khiến Trần
Liễu “đang đêm nổi loạn dấy binh chống lại triều đình”. Chính hành động này sẽ
ngấm ngầm gieo mầm hoạ cho tương lai dòng tộc, Trần Thủ Độ đã biết rõ ràng như
vậy nên khi Trần Liễu yếm thế “giả làm người đánh cá trốn lên thuyền của nhà
vua để xin hàng” Ông đã rút gươm quyết “chém chết tên phản tặc”. Hành động
quẳng gươm và câu nói “trong anh em ngươi chưa biết ai nghịch ai thuận” hoặc
“ta chỉ là con chó giữ cửa cho các ngươi” khi chứng kiến hành động vua (Quân)
lấy thân mình che chở cho anh (Thần) xin chú (Thần) tha cho anh mình khỏi tội
chết. Hoặc ra tay thanh trừ các thế lực
có khả năng đem lại mối nguy hại cho triều đình mới. Khi gặp hành động của vua
Lý Huệ Tông ngồi nhổ cỏ trước sân chùa, chỉ bằng một câu nói rất thẳng thắn “đã
nhổ cỏ thời phải nhổ cả gốc” đã khiến Lý Huệ Tông coi như một mệnh lệnh tự xử.
Điểm này cho thấy mọi hành động của Trần Thủ Độ đều rất mực quyết liệt và có
tầm nhìn chiến lược lâu dài và cũng rất thực tiễn chứ không hề xốc nổi “vô học”
như một số sử gia các đời trước nhận định.
Tấm lòng bác ái của Trần Thái Tông, khi
sự kiện Trần Liễu làm loạn, Trần Thủ Độ một mực ép gả Thuận Thiên cho vua, Trần
Thái Tông đã phản ứng lại bằng con đường lánh xa thế tục, bỏ lại ngai vàng, địa
vị cùng công việc triều chính, lên tu hành trên núi Yên Tử, khi ấy sự “lộng
quyền” của Trần Thủ Độ đã lên đến đỉnh điểm, Đại Việt Sử Ký toàn thư có đoạn
chép kể về việc một vị trung thần trước tình trạng lấn lướt quyền bính của Trần
Thủ Độ đã vào ôm chân vua mà khóc than, lo lắng cho vận mệnh nước nhà trước sự
lộng quyền của Trần Thủ Độ. Đưa chân gửi mình nơi cửa Phật, hành động của Trần
Cảnh xét cho cùng chỉ là sự phản ứng mang tính chất bột phát của một vị vua
trẻ, sớm được tiếp cận với tư tưởng tu tâm hướng thiện của Phật đạo. Trần Thủ
Độ, sớm đón biết ý vua, đã ra lệnh cho bá quan văn võ trong triều cũng như các
tỳ thiếp, cung nữ trong cung ra sức ngăn cản bước chân vua theo về cửa phật. Và
cũng chính Trần Thủ Độ sau khi ra lệnh cho
quần thần nội triều: “Nhà Vua ở đâu thì triều đình rời theo đến lập ở đó
”, đã có câu nói rất thống thiết và đầy đại nghĩa: “Bệ hạ ở tu cho mình thì
được, nhưng còn quốc gia xã tắc thì sao? Vì để lời nói suông mà báo đời sau thì
sao bằng lấy chính thân mình làm người dẫn đạo cho thiên hạ?”. Chính Thái tông
sau này đã thừa nhận sự trở về kinh thành của mình là nhờ có câu nói gan ruột
đó của Trần Thủ Độ.
Chỉ bằng một câu nói “Sao bằng lấy chính
bản thân mình ra dẫn đạo cho thiên hạ”, Trần Thủ Độ đã khơi đúng mạch nguồn
thương nước, thương dân trong con người Trần Thái Tông vốn giàu lòng bác ái.
Khi Trần Liễu ra hàng, Thái Tông đã rất cảm động ôm anh mà khóc. Trước lưỡi
gươm của Trần Thủ Độ lăm lăm giáng xuống đầu Trần Liễu, diệt trừ mối hoạ cho quốc
thể, Thái tông đã lấy thân mình che chở cho anh. Trong lòng Trần Thái tông lúc
đó chỉ còn duy nhất một thứ tình cảm huyết thống, bỏ qua đạo quân thần, vua
luôn miệng van xin chú tha tội cho anh, khiến cho Trần Thủ Độ không thể dùng
phép công mà trị tội Trần Liễu đành quẳng gươm mà buông một câu: “Trong hai anh
em các người không biết ai nghịch, ai thuận đâu.”. Về triều, Thái tông đã không
trách tội Trần Liẽu, lại cắt đất phong cho làm An Sinh Vương. Điều này rất hiếm
xảy ra trong lịch sử phát triển xã hội các nước phong kiến, chính ánh minh
triết toả ra từ tư tưởng của Trần Thái Tông “lấy chính thân mình dẫn đạo cho
thiên hạ” là nét văn hoá đặc sắc, làm nền cho tư tưởng xuất gia nhập thế hành
đạo của thiền phái Trúc Lâm. Và dòng tư tưởng này cũng là căn nguyên giải toả
được phần nào mối hận thù truyền kiếp của Trần Liễu đã ký thác lên đôi vai người
con trưởng Trần Quốc Tuấn khi ta xem xét sự ảnh hưởng từ tư tưởng bác ái của
Trần Thái Tông đến công tác lãnh đạo triều chính và các mối quan hệ cũng như
thái độ hành xử của Trần Quốc Tuấn với các sự kiện chính xảy ra trong 3 cuộc
kháng chiến vệ quốc chống lại sự xâm lược của đế quốc Nguyên Mông.
Đặc biệt trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất,
năm 1258 khi Trần Quốc Tuấn vừa tròn 32 tuổi, Trần Thái Tông đã gạt qua mọi mối
nghi ngờ, hiềm khích lâu nay giữa ông và Trần Liễu - cha đẻ Trần Quốc Tuấn.
Bằng tấm lòng bác ái, vị tha của một vị vua nhân từ, ông đã đặt trọn vẹn niềm
tin vào vị tướng trẻ tài ba Trần Quốc Tuấn, giao trọn vẹn binh quyền cho Trần
Thủ Độ và Trần Quốc Tuấn trọng trách lãnh đạo cuộc kháng chiến.
Trước vận nước lâm nguy Thái Tông đã không
ngần ngại trao toàn quyền thống lĩnh quân đội cho Quốc Tuấn, nhờ niềm tin tưởng
tuyệt đối này của Thái tông đã giúp Trần Quốc Tuấn trổ được hết tài năng quân
sự, cũng như dẹp bỏ được hoàn toàn mối lo lắng nghi ngại còn đè nặng trong lòng
quân dân Đại Việt vào vị thống soái của mình. Đó là nhân tố quan trọng thổi
bùng sức mạnh đoàn kết quân dân, trên dưới một lòng, đồng tâm nhất trí trong
toàn xã hội, cấu thành điều kiện thuận lợi nhất thúc đẩy sức mạnh chiến đấu toàn dân, đè bẹp mọi âm
mưu xâm lược của ngoại bang. Qua 3 cuộc kháng chiến Trần Quốc Tuấn đều giữ
quyền Quốc Công Tiết Chế, ta có thể nhận thấy dù ở đâu và bất kỳ hoàn cảnh nào,
ông cũng luôn đề cao cái nhân, cái thiện, hướng mọi người tới một tiêu điểm
chung trong nhận thức là: “Củng cố sức mạnh dòng tộc và phát huy nó như một
nhân tố tích cực, dẫn dắt mọi yếu tố khác đi vào quỹ đạo của sự đoàn kết và
phát triển”.
Tinh thần ái quốc trung quân của các bậc
túc nho, các bậc hiền nhân quân tử hưởng ứng chủ trương cầu hiền của nhà Trần,
ra sức giúp đời cũng có những ảnh hưởng không nhỏ đến tri thức quân sự của Trần
Quốc Tuấn, cuốn Binh thư yếu lược sau này là sự tổng hợp kết tinh của toàn bộ
tri thức quân sự được ông gom góp, đúc rút từ nhiều nguồn tri thức lưu truyền
trong tầng lớp các sĩ phu đương thời là minh chứng hùng hồn cho tinh thần này.
Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống
quân Nguyên, trước sự truy đuổi gắt gao của giặc, khi ông muốn rút theo đường
bộ khỏi vùng đất Chí Linh bởi thuỷ quân của giặc đang ào ạt tiến gần tới thuỷ
trại Vạn Kiếp, lúc ấy quân triều đình đã rút cả, trên sông Vạn Kiếp chỉ còn duy
nhất bóng một chiếc thuyền nhỏ của Yết Kiêu vẫn điềm tĩnh chống sào chờ đợi vị
chủ tướng của mình theo lời hẹn, chỉ khi Dã Tượng lên tiếng cam đoan cùng chủ
tướng rằng Yết Kiêu sẽ đợi đón bằng được mọi người theo đúng hẹn chứ nhất khoát
chưa chịu rời bến cầu an cho riêng mình, khiến Trần Quốc Tuấn thực sự cảm động.
Có đôi lúc ông cũng đem chuyện về mối hận cha truyền lại cho mình và phân tích
trách nhiệm và thời cơ thuận lợi đang dần đến cùng các bộ tướng, như Yết Kiêu,
Dã Tượng, Ông từng hỏi hai gia tướng là Yết Kiêu và Dã Tượng "nay ta muốn tuân lời cha, thừa cơ đoạt lấy
giang san, ý các ngươi thế nào?"
Yết
Kiêu thưa: Kế ấy nếu thành thì được phú quý một đời, nhưng để tiếng xấu nghìn
năm. Đại vương phú quý chưa đủ hay sao? Chúng tôi thà chết già với kiếp gia nô
chứ không mong làn quan nhỏ mà bỏ cả trung hiếu. Trọn đời chỉ xin tôn người bán
thịt dê tên là Duyệt làm thầy mà thôi. Tuấn nghe lời ấy, hổ thẹn mà khóc. Từ đó
lại càng yêu quý hai kẻ gia bộc nhiều hơn. (theo Đại Việt sử ký Toàn thư); lại có một hôm, vờ hỏi con là Hiển:"
Xưa nay, ai cũng muốn có thiên hạ, con nghĩ sao?" Hiển can: "việc đó
đối với người khác họ, còn không nên làm, huống chi là người trong cùng một
họ?" Tuấn nghe lời cảm động lắm (Đại Việt sử ký Toàn thư). Một lần khác, con của Tuấn là Tảng, bàn với
cha: "như Tống Thái tổ kia vốn là một lão nông, vậy mà còn có thể thừa cơ dấy
lên, lấy được cả thiên hạ, huống chi là..." Tuấn nghe giận lắm, định giết
Tảng, may có tâm phúc can ngăn mới tha, nhưng nói: "sau này ta chết, phải
đợi đến khi đậy nắp quan tài rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng" (Đại
Việt sử ký Toàn thư).
Với các gia nô trung thành ông đều nhận được
những lời khuyên nhủ can gián chí tình nên vượt qua mối tư thù để toàn tâm
phụng sự cho đất nước, riêng có Quốc Tảng là con trai ông cất lời khuyên cha,
nhân cơ hội mà đoạt lấy ngai vàng.
Xét theo góc độ lịch sử, khi vận thế nước
suy vi, việc tranh ngôi tiếm vị, phế lập một vị vua/ hoặc gán cho/ không còn
khả năng điều hành triều chính là hoàn toàn bình thường, và đã từng xảy ra với
triều Lý trước đó. Lời khuyên của Quốc Tảng hoàn toàn duy lý; Nếu chuyện đoạt
ngôi báu có xảy ra, trong trường hợp này, ở vai trò và địa vị cũng như thực lực
của Quốc Tuấn hoàn toàn phù hợp bởi hành động như giả định, ông sẽ giữ được
trọn vẹn chữ Hiếu với người cha đã quá cố của mình. Hơn nữa trong nội bộ dòng
tộc Trần khi ấy, Trần Quốc Tuấn giữ vai trò tộc trưởng, là cháu đích của Trần
Thừa – Trần Thừa là cha đẻ của Trần Liễu và Trần Cảnh. Việc ông (nếu có) tiếm
ngôi cũng hoàn toàn hợp lý.
Xét theo đạo đức người quân tử, thì hành
động đó hoàn toàn trái với đạo lý mà tư tưởng nho gia đã tốn khá nhiều thế kỷ
để xây dựng thành khuôn mẫu chung cho xã hội. Việc tiếm ngôi sẽ làm đảo lộn mọi
giá trị của nền luân lý xã hội đương thời phạm tội bất trung, bất kính. Hành
động Trần Quốc Tuấn rút gươm toan chém chết con trai của mình là Trần Quốc Tảng
khi ông nghe thấy lời bàn đoạt vị tiếm ngôi của Trần Quốc Tảng và kiên quyết
không chịu nhìn lại mặt người con đã có những ý nghĩ lầm lỗi, sai trái, kể cả
khi ông sắp lìa đời, hành động này đã làm nổi bật tấm lòng trung quân ái quốc
luôn ngời sáng của ông.
Xét theo phương diện xã hội học, là con
người, sống trong xã hội có nền văn hoá Bắc thuộc từ lâu đời, trải nhiều thế
kỷ, tư tưởng Nho gia chi phối hầu hết mọi mối quan hệ trong cuộc sống, ứng xử
xã hội, đã trở thành học thuyết thống trị của các triều đại phong kiến. Bên
cạnh những mặt tích cực của nó, còn song hành tồn tại nhiều bất cập hạn chế,
dẫn đến nhiều tình huống rất khó xử, thậm chí là bi kịch cho con người, gia
đình, gia tộc. Đức lớn hàng đầu của người chính nhân quân tử là: làm tôi phải giữ trọn chữ trung, làm con phải
lo tròn chữ hiếu. Cuộc đời Trần Quốc Tuấn đã rơi vào tình huống này tức là ông
phải lựa chọn giữa hiếu và trung. Nếu thực hiện theo di huấn của cha, tức trả
mối thù nhà đang đè nặng trên vai, thì với cương vị Quốc công Tiết chế thống
lĩnh quân đội, trước thế nước đang nguy, lòng triều thần dao động, việc giành
lấy ngai vàng về cho dòng trưởng dễ như trở bàn tay… Vậy mà trong điều kiện đó,
Trần Quốc Tuấn đã có sự lựa chọn thật
sáng suốt, vượt lên trên những giáo điều khuôn thước, những bất cập khe
khắt của hệ tư tưởng đương thời, tức là ông triệt để hiểu thấu những tinh hoa
Nho đạo, không vận dụng máy móc, không câu lệ những pháp chế, chế định phiền
toái, thủ cựu của Nho gia giữ vững được kỷ cương gia đạo. Và hơn ai hết, ông
hiểu rõ hoạ nước đang đe doạ từng ngày, nếu để xảy ra cuộc nội chiến, huynh đệ
tương tàn tranh giành quyền lực, thì núi xương biển máu hiến cho thần chiến
tranh sẽ trở thành mối lợi lớn của ngoại bang và nước Đại Việt khi ấy sẽ là
miếng mồi béo bở cho Đế quốc Nguyên Mông.
Tinh
thần trọng thị, yêu mến nhân tài, đem tấm chân tình để đón đãi hiền nhân của
Trần Liễu có ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng Trần Quốc Tuấn. (Tuy Trần Liễu vì mối hận riêng, ra sức chiêu
hiền đãi sĩ, chiêu mộ về dưới trướng nhiều anh hùng, hào kiệt chờ thời cơ rửa
mối tư thù cho tới tận lúc lâm chung, mối hận này vẫn còn ám ảnh và ông đã trăn
trối lại cho Trần Quốc Tuấn trách nhiệm nặng nề này). Theo Sử cũ chép lại
việc hoàng hậu Chiêu Thánh và vua Trần Cảnh lấy nhau nhiều năm mà không có con,
Thủ Độ lo lắng cho hoàng tộc mà ép gả công chúa Thuận Thiên cho vua, cho dù đó
là sự hy sinh chút quyền lợi cá nhân cho lợi ích dòng tộc, gia tộc thêm hưng
thịnh vẫn khiến Trần Liễu phải ôm khối hận mất vợ trong lòng mà dấy binh khởi
loạn, (trong giai đoạn này xã hội Đại
Việt vẫn coi vai trò của người phụ nữ trong xã hội không có gì đáng kể, chỉ là
thứ hàng hoá có khả năng sinh lợi qua việc sản sinh thêm nguồn nhân lực cho xã
hội.) việc Trần Liễu vì mất vợ mà nổi loạn còn tàng chứa một nguyên nhân
sâu sa hơn nữa, đó có thể coi là sự nổi loạn của ý thức xã hội phản kháng lại
sự độc đoán chuyên quyền, quyền nghiêng chân chúa của Trần Thủ
Độ khi triều đình còn đang trong giai đoạn trứng nước.
Loạn không thành, Trần Liễu chấp nhận
tước phong An Sinh Vương và vùng đất An Bang lập thái ấp. Đêm ngày rèn chí đợi
thời, mở rộng tấm lòng kết giao kẻ sĩ, không nề hà tước vị, đẳng cấp xuất thân,
những người tài giỏi trong nước đều được ông trân trọng đối đãi với danh nghĩa
rèn cặp cho Trần Quốc Tuấn.
Vì vậy, Trần Quốc Tuấn sớm được tiếp cận
với nền tri thức tiêu biểu của thời đại qua các bậc thức giả uyên thâm. Trong
mọi hành vi ứng xử, mọi mối quan hệ thân tộc và gia tộc ông đều tỏ rõ thái độ
khu xử đúng đắn.
Các
cuốn như Binh Thư yếu lược, Vạn Kiếp tông bí truyền thư, và Hịch tướng sĩ sau
này là kết tinh lại cả quá trình học hỏi, tiếp thu và phát triển tinh hoa quân
sự của bản thân ông và thời đại. Tinh thần yêu hiền đãi sĩ, coi trọng nhân tài
đã biểu hiện xuyên suốt và khá rõ nét qua câu nói của Trần Quốc Tuấn: “Chim
hồng hộc bay cao là nhờ vào sáu trụ cánh…”.
Lịch sử cũng đã minh chứng minh triết tư
tưởng và tài năng quân sự của Trần Quốc Tuấn qua 3 cuộc kháng chiến chống sự
bành trướng của đoàn quân xâm lược Nguyên – Mông.
Cuộc kháng chiến lần thứ nhất khởi đầu từ
tháng 1 năm 1258 và kết thúc vào tháng 2 năm 1258.
Trên bản đồ bành trướng của đoàn quân xâm
lược Mông Cổ, Đại Việt là nước liền sông
liền núi có vị trí địa lý và điều kiện giao thông đường thuỷ, bộ hết sức thuận
tiện là bàn đạp thuận lợi cho những kẻ xâm lược trong công cuộc mở rộng lãnh
địa xuống Phương Nam
thôn tính nước Chiêm Thành, Cuộc chiến thực sự chỉ diễn ra trong vòng 1 tháng
trời với đầy đủ sự khốc liệt của chiến tranh, nhưng âm mưu dấy binh xâm lược
Đại Việt của Mông Cổ thì đã được chuẩn bị chu đáo từ nhiều năm trước. Cụ thể năm
1257, sau hai lần đánh sang Nhật bất thành vì cả hai lần đều bị bão táp biển
khơi cản trở, Hốt Tất Liệt khi ấy đã bình định và thu phục xong vùng Vân Nam,
sai sứ giả sang ra lệnh cho vua nước Đại Việt phải thần phục. Vua Trần Thái
Tông không chịu thần phục, xuống chiếu bắt giam sứ giả, rồi lệnh cho tướng trẻ
Trần Quốc Tuấn đưa quân lên trấn thủ phía bắc. Hốt Tất Liệt ngông cuồng liền
sai tướng Ngột Lương Hợp Thai (Wouleangotai), từ Vân Nam, đem 3 vạn quân đánh xuống nước
ta chiếm vùng Tây Bắc, đến ngày 17 tháng 1 năm 1958 thì chiếm xong Bình Lệ
Nguyên (Vĩnh Phú) Do khí thế của giặc quá mạnh, Trần Quốc Tuấn phải dẫn quân lui
về sơn tây. Vua Thái Tông thân chinh dẫn nhuệ binh nghênh chiến, cũng không cản
nổi bước tiến của vó ngựa Nguyên triều, phải di tản chiến thuật rút quân về Phủ
Lỗ, phá cầu lập phòng tuyến, sau đó đại
quân lại tiếp tục rút dần về bờ nam sông Cà Lồ, về kinh thành Thăng Long, Theo
đường thuỷ Sông Hồng về rút về Thiên Mạc để bảo toàn lực lượng và đánh chặn
tiêu hao dần sinh lực quân Nguyên. Trên đường rút chạy, vua ra lệnh thực hiện
triệt để kế sách “Vườn không nhà trống” Quân Mông cổ thừa thắng tiến thẳng
xuống tới Đông Bộ Đầu (huyện Thượng Phúc, phía đông Sông Hồng).
Bà linh từ quốc mẫu, phu nhân của thái sư
Trần Thủ Độ đã chỉ huy toàn thể triều đình rút lui thành công về vùng Thiên Mạc
(huyện Đông An, Hưng Yên).
Địch vào thành Thăng Long, thấy ba sứ giả
của họ còn bị giam, mà một người đã chết, Ngột Lương Hợp Thai nổi giận, cho
quân Mông cổ mặc sức cướp phá, giết người, bất kể già trẻ lớn bé.
Trong tình thế đen tối ấy, vua dò ý quan
thái uý Trần Nhật Hiệu, ý ông này muốn đầu hàng nhà Tống. Nhưng khi hỏi quan
thái sư Trần Thủ Độ thì ông khảng khái thưa: "Đầu tôi chưa rơi xuống đất
xin bệ hạ đừng lo". Thái độ cương quyết của quan thái sư đã làm cho vua an
tâm. Thời gian là đồng minh tốt của quân dân Đại Việt, quân Mông Cổ sau 9 ngày chiếm
đóng trong kinh thành gặp nhiều khó khăn về quân lương, sa lầy chiến thuật, từ
thế chủ động lui dần vào thế bị động.
Ngày 29 tháng 1 năm 1258 đón biết thời cơ
đã chín mùi, vua Thái Tông ra lệnh tổng phản công, quân Trần từ Thiên Trường
ngược Sông Hồng tiến đánh ồ ạt vào sở chỉ huy chiến trường của địch ở Đông Bộ
Đầu, địch thua dần, cuối cùng phải rút lui từng bước. Trên đường rút chạy qua
Quy Hoá, lại bị quân địa phương do Hà Bổng phục binh đánh rát, gây cho địch
nhiều thiệt hại nặng nề, quân Mông Cổ đại bại rút về Vân Nam.
Trong chiến thắng quân Mông Cổ lần thứ nhất,
tướng Trần Quốc Tuấn, lúc ấy mới 32 tuổi, đã góp công lớn trong nhiệm vụ tiên
phong có vai trò là vị tướng trụ cột của triều Trần với tầm nhìn chiến lược và
bộ óc chỉ huy kiệt xuất, thể hiện đặc biệt rõ ở nghệ thuật quân sự ông sử dụng
điều tiết các trận đánh. Mỗi giai đoạn phát triển của chiến tranh, ông đều có
những phán đoán rất chính xác và nắm chắc được tình hình diễn tiến của đại cục,
quân xâm lược Mông Cổ với sức mạnh ban đầu của vó ngựa, quen tác chiến trên
lưng ngựa và địa hình tương đối bằng phẳng, thuận tiện đi lại cơ động, đánh
nhanh thắng nhanh, ông chủ động đối phó lại bằng phương hướng tác chiến lấy ít
địch nhiều, dựa hình thế núi sông hiểm trở phân tán lực lượng địch, bảo toàn
sức quân, một mặt huy động triệt để lòng dân thực hiện kế “Vườn không nhà
trống” đẩy địch vào thế sa lầy, chủ động tạo ra thời cơ thuận lợi nhất cho quân
Trần sau đó dồn sức phản công mãnh liệt khiến địch quân từ thế chủ động khinh
thường ngạo mạn trở lên lúng túng bị động, rời rã nhuệ khí chiến đấu tự chuốc
lấy thất bại thảm hại trên chiến trường.
Sau cuộc khảng chiến lần thứ nhất, quân
dân Đại Việt tuy là chiến thắng, sự chiến thắng vẻ vang của một dân tộc có nền độc lập tự chủ chiến thắng sự
bành trướng đô hộ của một dân tộc khác, nhưng làm thế nào để tránh nạn binh
đao, bồi dưỡng sức dân, thực thi cho kế sách lâu dài, bảo tồn được quyền tự chủ
dân tộc. Tình thế ấy buộc triều đình nhà Trần và Trần Quốc Tuấn khi ấy trong
vai trò trụ cột, cần phải có những đối sách phù hợp: Trong nghệ thuật đối
ngoại, Ông và triều Trần chủ trương cứng rắn và cương quyết trước mọi thái độ
khiêu khích với sách lược: Mềm dẻo, linh hoạt ứng biến trước mỗi vấn đề nảy
sinh. Kết quả của các đối sách này là nước Đại Việt được hưởng không khí hoà
bình một thời gian khá dài (từ năm 1258
cho đến năm 1284).
CUỘC
KHÁNG CHIẾN LẦN THỨ HAI
Hốt Tất Liệt tuy đã chiếm được Vân Nam,
nhưng mãi tới năm 1279 mới bình định được nhà Tống lập ra triều đại nhà Nguyên.
Lấy hiệu là Nguyên Thế Tổ. Sau khi đã an vị, Nguyên Thế Tổ, tức Hốt Tất Liệt,
liền sai Lễ bộ Thượng thư Sài Thung sang sứ nước ta, bắt vua ta sang chầu và
nộp cống phẩm. Vua Trần Nhân Tông không chịu sang triều cống, cho chú họ là
Trần Di Ái đi thay mình. Nguyên Thế Tổ cậy oai nước lớn, phong Trần Di Ái làm
An Nam quốc vương, và sai Sài Thung đưa Di Ái về nước. Tin truyền về kinh đô,
vua Trần Nhân Tông sai tướng lên chặn đánh, bắn mù mắt Sài Thung và bắt sống lũ
bán dân hại nước Trần Di Ái. Thấy sứ giả bị bắn mù mắt chạy về, Nguyên Thế Tổ
nổi giận, năm 1282 liền phong cho con là Thoát Hoan làm Trấn Nam vương, cùng
bọn Toa Đô, ô Mã Nhi, A Bát Xích, v.v., đem 50 vạn quân tiến vào nước ta, lấy
cớ mượn đường sang đánh Chiêm Thành! Đạo quân Thoát Hoan tiến vào qua ngả Lạng
Sơn, còn đạo quân Toa Đô đi đường biển đánh vòng xuống Chiêm Thành.
Được cấp báo quân Nguyên Mông động binh,
năm 1283, vua Trần Nhân Tông mở hội nghị Bình Than (Hội nghị trên bến sông Bình
Than thuộc đất Bắc Ninh), phong cho Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn làm Tiết chế
thống lãnh toàn thể lực lượng quân ta để chống giặc, phong Chiêu Minh Vương Trần
Quang Khải làm Thượng tướng Thái sư. Năm 1985 triệu tập các bô lão khắp nơi về
điện Diên Hồng để hỏi ý kiến nên hoà hay nên chiến.Tất cả các bô lão đồng thanh
xin quyết chiến!
Ban đầu thế địch quá mạnh, nhà Nguyên lúc
này đã bình định xong hoàn toàn đất đai nước Trung Hoa rộng lớn và đánh chiếm
xong nước Cao Ly, chia quân làm 3 hướng chiến lược ồ ạt tiến sang biên giới Đại
Việt.
Cánh
quân chủ lực do Thoát Hoan (Tôgan) tiến quân theo hướng Bắc Trung Quốc, qua
Quảng Tây tiến đánh Lạng Sơn qua ải Chi Lăng, rồi tiến sâu vào Vạn Kiếp, từ đó
mở hướng tấn công đoạt thành Thăng Long.
Cánh quân của tướng Naritxuđin vòng theo
hướng Bắc – Tây Bắc tràn xuống Vân Nam.
Cánh quân của Toa Đô thẳng tiến theo
hướng Nam tiến đánh Chăm Pa,
tấn công Nghệ An, Thanh Hoá.
Trước thế giặc mạnh, quân đông, nhà vua
lo âu cho sinh mạng của dân nên tỏ ý muốn hàng, nhưng Hưng Đạo Vương Trần Quốc
Tuấn tâu: "Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu tôi trước đã".
Vương soạn ra quyển binh thư yếu lược,
rồi truyền hịch để khuyên răn các tướng lãnh. Được tướng sĩ nức lòng ủng hộ,
quyết chí đánh giặc, ai cũng xâm vào tay hai chữ "sát Thát" (giết
quân Mông Cổ).
Cánh quân do Toa Đô chỉ huy, với sự trợ
giúp của đạo quân Ô Mã Nhi, tiến công lại từ phía nam, nơi thượng tướng Trần Quang Khải đang đóng quân
trấn giữ, không chặn nổi sức tiến của địch, phải rút lui, Trấn thủ Nghệ An là
Trần Kiện quá sợ hãi vội vã đem theo gia quyến ra hàng giặc.
Tại mặt trận Thiên Trường (khúc sông
Thiên Mạc, huyện Đông An, phía Hưng Yên), cánh quân của tướng Trần Bình Trọng
cũng thua, Trần Bình Trọng bị giặc bắt. Chính Thoát Hoan chiêu dụ ông: "Có
muốn làm vương đất Bắc không?", ông quát lên: "Ta thà làm quỷ nước Nam,
chứ không thèm làm vương đất Bắc". Không chiêu hàng nổi một vị tướng can
trường như thế, Thoát Hoan ra lệnh chém đầu ông.
Tình thế hết sức nguy cấp, quân địch
thắng khắp các mặt trận. Bọn hoàng tộc như Trần ích Tắc, Trần Tú Viên cũng ra
hàng Thoát Hoan.
Giữa cơn sóng gió tứ bề, nổi bật lên dáng
đứng anh hùng của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, vị Tiết chế thống lãnh. Ngài
vẫn bền lòng chỉ huy cuộc kháng chiến. Một mặt Ngài phụng giá đưa vua vào Thanh
Hóa, mặt khác Ngài bình tĩnh điều binh khiển tướng quyết chiến thắng quân thù.
Tại Hàm Tử Quan, quân Nguyên đã nếm mùi
thất bại đầu tiên khi đụng độ với vị tướng trẻ Trần Nhật Duật. Nguyên do sau
khi Toa Đô lấy được đất Nghệ An nhưng không thể tiến quân ra Bắc hội quân cùng
quân chủ lực bởi thượng tướng Trần Quang Khải sau khi rút lui chiến thuật ra
khỏi đất Thanh Nghệ, liền lập phòng tuyến án ngữ vững chắc, bao vây cản phá
bước tiến của giặc nên Toa Đô đành hợp quân cùng Ô Mã Nhi theo đường biển kéo
quân ra Bắc hội quân theo ý đồ chiến lược ban đầu của Nguyên triều. Được tin,
Hưng Đạo Vương tâu vua cử Chiêu văn vương Trần Nhật Duật và các tướng Trần Quốc
Toản, Nguyễn Khoái đem quân ra đón đánh quân Toa Đô tại bến Hàm Tử (huyện Đông
An, Hưng Yên. Đoàn quân do Toa Đô chỉ huy trên đường tiến quân qua cửa Hàm Tử
đã vấp phải sự phản kháng mãnh liệt và bị quân Trần đánh tan tác, Toa Đô thảm
bại, phải lui quân ra cửa Thiên Trường.
CHIẾN THẮNG CHƯƠNG
DƯƠNG ĐỘ
Giữa năm 1285, sau khi Trần Nhật Duật đánh
thắng trận mở màn tại Hàm Tử, Hưng Đạo Vương liền tâu vua nhân đà sĩ khí đương
hăng, tập trung lại lực lượng mở mặt trận tái chiếm kinh thành Thăng Long.
Thượng tướng thái sư Trần Quang Khải đã xin được đánh trận này cùng các tướng
Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão. Quân Trần men theo đường biển vào tới bến Chương
Dương thì ra lệnh tấn công chiến thuyền địch. Bất ngờ và dũng mãnh, quân Trần
đã đánh tan quân giặc và thừa thắng, truy kích địch tới tận chân thành Thăng
Long, sau lại dùng phục binh đánh úp, Thoát Hoan phải bỏ kinh thành chạy qua
sông Hồng, chiếm giữ Kinh Bắc (Bắc Ninh). Trần Quang Khải dâng biểu báo tin
chiến thắng và đưa quân vào thành Thăng Long mở tiệc khao quân.
CHIẾN THẮNG TÂY KẾT
Toa Đô đóng quân ở Thiên Trường, đang cố
tìm mọi cách vượt phòng tuyến quân Trần bắt liên lạc với đội quân chủ lực, nhằm
xúc tiến cuộc hội binh với chủ tướng Thoát Hoan theo kế hoạch, quân Toa Đô tiến
dần về đóng tại Tây Kết (Khoái Châu, Hưng Yên). Hưng Đạo Vương đón biết ý định
hợp quân của giặc sẽ tăng thêm rất nhiều trở ngại cho quân Trần, liền tâu với
vua sai thượng tướng Trần Quang Khải và Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật chia
quân đánh cầm chân giặc nhằm chia cắt lực lượng địch và ngăn cản bớt tốc độ
hành quân của địch, khống chế toàn bộ mọi thông tin liên lạc giữa hai cánh quân
địch, tạo điều kiện thuận lợi cho mũi phản công truy kích do đích thân Ngài chỉ
huy đốc thúc chiến đấu tiến công vào cánh quân của Toa Đô
Bị
cô lập và bất ngờ, Toa Đô cùng Ô Mã Nhi bỏ đường thuỷ lên đường bộ nhằm hướng
biển rút chạy, trận này Toa Đô tử
thương, ÔMã Nhi lẻn xuống thuyền chạy thoát được về nước.
CHIẾN THẮNG VẠN KIẾP
Tháng sáu năm ất Dậu 1285, xét thời cơ phản
công toàn diện đã tới giai đoạn quyết định. Hưng Đạo Vương liền sai các tướng
Nguyễn Khoái, Phạm Ngũ Lão đưa quân mai phục ở rừng sậy bên bờ sông (đoạn chảy
qua) Vạn Kiếp, rồi sai hai con là Hưng Võ vương Nghiễn và Hưng Hiếu vương Uý
chặn đường địch rút về châu Tư Minh. Đích thân Vương chỉ huy tấn công bản doanh
Thoát Hoan ở Bắc Giang.
Bị quân Trần giáng cho những đòn sấm sét,
quân địch nao núng, Thoát Hoan dẫn đại binh rút chạy, tới bến Vạn Kiếp, quân
mai phục của Nguyễn Khoái và Phạm Ngũ Lão đổ ra đánh, tiêu diệt phân nửa số
quân địch, tướng địch là Lí Hằng tử trận. Thoát Hoan được các bộ tướng Phàn
Tiếp, A Bát Xích, Lí Quán cố sức đánh mở đường thoát thân. Tàn quân của địch
chạy về gần châu Tư Minh, bất thần bị phục binh của Hưng võ vương Nghiễn và
Hưng hiếu vương úy đổ ra đánh. Tướng giặc Lí Quán tử trận, Thoát Hoan và bọn
Phàn Tiếp, A Bát Xích thoát về nước được.
Thế là sau nửa năm xâm lược nước ta, 50
vạn quân Nguyên Mông đã bị quân tướng nhà Trần quét sạch khỏi bờ cõi. Chiến
thắng vệ quốc lẫy lừng ấy là nhờ vào tình đoàn kết vua tôi một lòng quyết chiến
quyết thắng, nhờ vào tài điều binh khiển tướng và lòng trung quân ái quốc cao
cả của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.
Trong cuộc kháng chiến này, nghệ thuật chỉ đạo
quân sự đã được đẩy thêm một cấp độ mới cao hơn hẳn so với cuộc kháng chiến lần
thứ nhất; Sự tương quan lực lượng giữa hai bên ta, địch cũng rất chênh lệch, để
đối phó Trần Quốc Tuấn cùng triều đình nhà Trần đã chủ động làm chủ chiến
trường, dẫn dắt địch đi sâu vào nội địa, nhằm kéo dãn đội hình địch, sau đó
chia cắt địch ở mọi nơi, khiến quân địch phải dàn trải lực lượng chống đỡ trên
mọi chiến trường, làm giảm đi rất nhiều tính cơ động và khả năng phát huy sức
chiến đấu vốn là lợi thế của địch.
Bao vây chia cắt, sau đó cô lập hoàn toàn
lực lượng địch cũng là phương sách được quân Trần thực hiện triệt để.
CUỘC
KHÁNG CHIẾN LẦN THỨ BA
Thoát Hoan chiến bại trở về, khiến Nguyên
Thế Tổ Hốt Tất Liệt nổi giận, ra lệnh chém đầu, nhờ quần thần xin cho mới được
tha. Lúc ấy nhà Nguyên đang chuẩn bị xâm lăng nước Nhật Bản, nhưng vì muốn phục
hận, nên đã đình chỉ việc đánh Nhật Bản để dốc toàn lực vào việc chuẩn bị trả
thù. Lần xâm lăng này, Thoát Hoan lại được cử làm đại nguyên soái, có bọn A Bát
Xích, áo Lỗ Xích, ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, v. v., làm phụ tá.
Mùa
xuân năm 1287, Thoát Hoan kéo 30 vạn quân tái xâm lược Đại Việt, viện cớ đưa
Trần ích Tắc về làm An Nam quốc vương.
Vua
Trần lại cử Hưng Đạo Vương thống lãnh toàn quân chống giặc. Vương bố trí các
tướng trấn đóng các yếu điểm và chỉ thị các tướng áp dụng chiến thuật: Khi địch
mạnh thì tạm lui để bảo tồn lực lượng, đợi khi thời cơ tới thì xua quân tốc
chiến tốc thắng.
Quân nguyên mông tiến vào nước ta theo
hai ngả: Thoát Hoan theo đường bộ, Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp theo đường thủy, ban đầu
thế giặc quá mạnh, quân ta chấp hành lệnh tạm lui. Vua Nhân Tông và thượng
hoàng Thánh Tông rời về Thanh Hoá, tuy nhiên lần này địch chỉ tiến được tới Vạn
Kiếp, Chí Linh và Phả Lại chứ chưa đặt được chân vào kinh thành Thăng Long.
CHIẾN THẮNG VÂN ĐỒN
Thoát Hoan đóng ở Vạn Kiếp chờ đợi tin
đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ đang tiến vào Đại Việt theo đường biển Đông
để triển khai chiến lược. Ô Mã Nhi từ cửa Đại Bàng đem quân đi đón và áp tải
đoàn thuyền chở lương vận, trên đường đi đón đoàn thuyền lương vận này, Ô Mã
Nhi đã chạm trán thuỷ quân tuần tiễu biển Đông nhà Trần do Nhân Huệ vương Trần
Khánh Dư chỉ huy đang phục binh tại ải Vân Đồn. Thuỷ quân của Ô MÃ Nhi đã đánh
thắng quân chặn đường của Trần Khánh Dư.
Cầm chắc đường vận lương đã được khai
thông, Ô Mã Nhi đẩy nhanh tốc độ hành quân tiến sâu vào nội địa. Đoàn thuyền
lương bị hạn chế tốc độ di chuyển bởi phải tải theo một lượng lương thực khá
lớn, chẳng mấy chốc bị rớt lại phía sau. Trần Khánh Dư được tin cấp báo, quyết
chí phục hận, và cũng nhân cơ hội này mà đoái công chuộc tội, nên đã nhanh
chóng chỉnh đốn lại thuỷ quân, bổ sung lực lượng và phục binh chờ đoàn thuyền
của Trương Văn Hổ. Quả nhiên, đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ đã trúng phục
binh của Trần Khánh Dư và bị đánh cướp hết cả. Trương Văn Hổ chạy thoát về
Quỳnh Châu.
CHIẾN THẮNG BẠCH ĐẰNG GIANG
Ngày
30 tháng 3 năm 1288, vì mất hết lương thực trong trận Vân Đồn, địch cạn lương,
lại thêm khí hậu khắc nghiệt, nhất là vì thấy thế của quân ta đã vững vàng khó
phá nổi, nên quyết định lui binh. Thoát Hoan lệnh cho Ô Mã Nhi đưa 8 vạn quân
cùng 400 chiến thuyền rút theo hướng cửa sông Bạch Đằng và tướng Phàn Tiếp dẫn
tiền quân đột kích hành quân tắt qua sông Giá, sông Đá Bạc sau đó lợi dụng thuỷ
triều xuôi dòng Bạch Đằng rút nhanh ra biển về nước, Thoát Hoan sẽ rút quân
theo đường bộ hướng Lạng Sơn, tướng Trịnh Bằng Phi có trách nhiệm chỉ huy đội
kỵ binh hộ tống quân thuỷ ra đến Biển.
Hưng Đạo Vương biết được kế hoạch lui
binh của địch, nên đã sai tướng Phạm Ngũ Lão dẫn quân lên Lạng Sơn mai phục
sẵn, rồi sai tướng Nguyễn Khoái bí mật cho quân đóng cọc nhọn bịt sắt khắp lòng
sông Bạch Đằng. Quân Trần theo lệnh Trần Quốc Tuấn, dàn sẵn trận địa phục binh
chặn đánh đường rút chạy của địch qua các sông nhánh ở Tốt Động và Trúc Động,
dồn địch phải ngược về hướng cửa sông Bạch Đằng, làm chậm tốc độ hành quân, ép
địch phải tiến vào trận địa chính đúng ngày giờ đã được quân Trần tính toán
trước. Cánh tiền quân Phàn Tiếp rút chạy theo nhánh sông Giá, bị chặn đánh ráo
riết ở cánh phải Trúc Động buộc phải quay lại sông Đá Bạc và bị quân trần tiêu
diệt hoàn toàn. Cánh quân thuộc mũi trung quân lợi dụng sức nước của dòng chảy,
đẩy nhanh tốc độ hành quân rút theo sông Đá Bạc. Khi nước thuỷ triều lên quân
Trần giả đò ra khiêu chiến và thua chạy, dụ cho địch vượt qua khá xa vùng đóng
cọc. Khi nước rút thì lập tức đốc quân phản công, dùng phép đánh hoả công thả
các bè lửa theo dòng chảy xuôi vào trận địa cọc, kết hợp phục binh và dân binh
dốc sức tiến đánh đẩy chiến thuyền địch sa dần vào bãi cọc nhọn khiến thuyền
địch bị thủng đắm, lại thêm sức nước ròng xô dạt các chiến thuyền của giặc va
dồn vào nhau, làm mồi dẫn cho những bè lửa của quân Trần. Mọi diễn tiến đã xẩy
ra đúng kế hoạch của Đại vương.
Đúng vào thời điểm Nguyễn Khoái dồn được
chiến thuyền địch vào vùng tử địa thì đại quân của Hưng Đạo Vương cũng kịp thời
kéo tới tiến công như vũ bão. Nhiều chiến thuyền địch vướng cọc nhọn bị chìm.
Quân Nam
lợi dụng thời cơ, đã tiêu diệt gọn địch quân. Các tướng Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp
bị bắt. Hưng Đạo Vương toàn thắng.
Thoát Hoan được tin thất trận Bạch Đằng,
liền kéo quân rút chạy. Về tới ải Nội Bàng bị phục binh của Phạm Ngũ Lão đổ ra
đánh, tướng giặc Trương Quân bị Phạm Ngũ Lão chém chết. Quân Nam tiếp tục truy kích, thêm hai
tướng giặc là A Bát Xích và Trương Ngọc bị tử trận. Riêng Thoát Hoan được tùy
tướng Trình Bằng Phi hộ tống quân thuỷ đến đất Đông Triều bị quân Trần đánh rát
phải bỏ mặc đội thuỷ binh, rút về Lạng Sơn theo chủ tướng hết lòng phò nguy,
mới chạy thoát được về nước.
Trong cuộc kháng chiến này, về mặt nghệ
thuật quân sự ta dễ dàng nhận ra kế sách chính của Trần Quốc Tuấn khi tung quân
chủ lực nhà Trần với chiến thuật vây đánh chia cắt, cô lập hoàn toàn thuỷ binh
và bộ binh, kết hợp tiến đánh nhịp nhàng điều địch đúng kế hoạch đã được quân
Trần tiên lượng trước đấy dần địch vào thế lúng túng, quanh quẩn bị động trên
chiến trường xa lạ và tiến tới tiêu diệt
hoàn toàn đạo quân thuỷ đặc biệt thiện chiến và đầy mình kinh nghiệm chiến đấu
trên sông nước của địch. Việc lựa chọn tiêu diệt đoàn thuỷ binh có số lượng
địch quân tuy nhỏ, nhưng trình độ tác chiến và đặc biệt là công sức xây dựng,
huấn luyện được một hải đội chiến thuyền như vậy của triều đình Nguyên Mông
thực sự rất tốn kém, kỳ công trong nhiều năm liền là một đòn đánh về mặt tâm lý
cực kỳ sâu sắc, khiến cho Nguyên triều nhụt hết nhuệ khí xâm lược.
Trải qua ba cuộc kháng chiến, Trần Quốc
Tuấn cùng quân dân Đại Việt với tinh thần chiến đấu bất khuất đã làm nên những
kỳ tích lịch sử chống ngoại xâm không của riêng nước ta mà trên toàn thế giới. Thế
là sau ba lần xâm lăng nước ta, đạo quân Nguyên Mông hùng mạnh nhất thế kỉ 13
đã chuốc lấy thảm bại và chịu từ bỏ hẳn mộng xâm lăng. Những chiến công hiển
hách ấy là thuộc về các vua, quan và quân dân Đại Việt và Hưng Đạo Vương Trần
Quốc Tuấn trong suốt thời gian xảy ra các cuộc chiến vệ quốc luôn đóng vai trò
dẫn đầu mọi sách lược, ông được quân dân Đại Việt coi là linh hồn của ba cuộc
kháng chiến vệ quốc vĩ đại này. Chiến thắng của nước ta chẳng những đã bảo vệ
được bờ cõi giang sơn nước nhà mà còn giúp làm tiêu tan tham vọng của Hốt Tất
Liệt muốn xâm lăng chinh phục thế giới, góp phần làm suy yếu thế lực của triều
đình nhà Nguyên ngay tại nước Trung Hoa.
Tư tưởng cùng tài năng quân sự của Trần
Quốc Tuấn qua 3 cuộc kháng chiến vĩ đại trong lịch sử trung đại nước ta mãi mãi
là ngọn đuốc toả sáng soi đường cho mỗi thế
hệ Việt Nam,
những đức tính hội tụ trong con người ông là nguồn giáo dục tri thức vô tận
mang tính chọn lọc và tiêu biểu nhất của một nền văn hoá thuần Việt, đậm đà bản
sắc dân tộc Việt Nam. Trải qua nhiều thế kỷ, tinh thần và tài năng quân sự của
ông đã chan hoà trong dòng máu dân tộc Việt Nam. Tư tưởng bất khuất đại trung,
đại hiếu, đại nghĩa khi vận nước lâm nguy luôn tỏa sáng, không những riêng thời
đại ông, mà đến tận ngày nay còn nguyên giá trị.